vanban.org

Bản án 77/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Nguyễn Thị Trúc N được ly hôn với anh Lê Huy T.

Về con chung: Giao hai cháu Lê Nguyễn Kim N1, sinh ngày 19/9/2010 và cháu Lê Nguyễn Kim H, sinh ngày 10/10/2016 cho chị N nuôi dưỡng đến 18 tuổi và có khả năng lao động. Tạm thời anh Toàn không phải cấp dưỡng nuôi con. Anh T được quyền qua lại, thăm non, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được ng… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Trúc N - Lê Huy T"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Nguyễn Thị Trúc N được ly hôn với anh Lê Huy T.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN XUÂN LỘC
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 77/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 08/06/2022
V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Kim Phượng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lữ Quốc Toàn

Bà Trần Thị Kim Tân

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Tuấn Hải- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diến – Kiểm sát viên

Ngày 08 tháng 06 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 83/2022/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 02 năm 2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 60/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 05 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 48/2022/QĐST-HNGĐ ngày 23 tháng 5 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Trúc N, sinh năm 1984 (vắng mặt)

- Bị đơn: Anh Lê Huy T, sinh năm 1973 (vắng mặt).

Cùng nơi cư trú: ấp TT, xã Xuân Hiệp, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Trúc N trình bày:

Chị và anh Lê Huy T tự nguyện tìm hiểu yêu thương và chung sống với với nhau, có đăng ký kết hôn vào ngày 17/03/2009 tại UBND xã Xuân Hiệp, huyện Xuân Lộc. Theo chị Nguyễn Thị Trúc N quá trình chung sống, vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm về cách sống nên cả hai không tìm được quan điểm chung khi sống với nhau, anh Toàn có tính độc đoán, gia trưởng hay nhậu nhẹt, ham chơi không lo kinh tế cho gia đình, cuộc sống hôn nhân ngày càng trầm trọng. Nay chị nhận thấy, mục đích của hôn nhân không đạt được, tình cảm vợ chồng không còn, vợ chồng không thể hàn gắn đoàn tụ nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh T.

- Về con chung: Vợ chồng chung sống có 02 con chung là cháu Lê Nguyễn Kim N1, sinh ngày 19/9/2010 và cháu Lê Nguyễn Kim H, sinh ngày 10/10/2016. Sau khi ly hôn, chị N yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng 02 cháu và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản nợ chung: Chị N không yêu cầu giải quyết.

- Về nợ chung: không có.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Lê Huy T đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không đến Tòa án làm việc. Tuy nhiên, tại biên bản xác minh ngày 07 tháng 03 năm 2022, của Ủy ban nhân dân xã Xuân Hiệp, huyện Xuân Lộc cung cấp hiện nay anh Toàn đang sống tại xã Xuân Hiệp, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai. Về mâu thuẫn của chị N và anh T chính quyền không nắm rõ.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện phát biểu về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng và quan điểm giải quyết vụ án:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, riêng bị đơn không chấp hành đúng quy định pháp luật.

Áp dụng Điều 56, 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014: chấp nhận đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị Trúc N. Chị Nguyễn Thị Trúc N được ly hôn với anh Lê Huy T.

Về con chung: Giao chị Nguyễn Thị Trúc N tiếp tục nuôi dưỡng 02 cháu Lê Nguyễn Kim N1, sinh ngày 19/9/2010 và cháu Lê Nguyễn Kim H, sinh ngày 10/10/2016 đến 18 tuổi và có khả năng lao động, chị N không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: do chị N khai không có, anh T không có lời khai về tài sản chung và nợ chung nên cần tách ra giải quyết khi các đương sự có yêu cầu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Nguyễn Thị Trúc N có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt. Do đó, Tòa án xét xử vắng mặt chị N là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Anh Lê Huy T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến dự phiên Tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, do đó Tòa án vẫn tiếp tục xét xử vắng mặt anh Toàn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Trúc N khởi kiện ly hôn với anh Lê Huy T, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai theo khoản 1 Điều 28, Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[3] Về nội dung vụ án: Chị Nguyễn Thị Trúc N vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiên ly hôn đối với anh Lê Huy T. Xét yêu cầu khởi kiện của chị N Hội đồng xét xử nhận định:

Chị Nguyễn Thị Trúc N và anh Lê Huy T tự nguyện tìm hiểu yêu thương và chung sống với với nhau, có đăng ký kết hôn vào ngày 17/03/2009 tại UBND xã Xuân Hiệp, huyện Xuân Lộc. Theo chị Nguyễn Thị Trúc N khai quá trình chung sống, vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm về cách sống nên cả hai không tìm được quan điểm chung khi sống với nhau, anh T có tính độc đoán, gia trưởng hay nhậu nhẹt, ham chơi không lo kinh tế cho gia đình, cuộc sống hôn nhân ngày càng trầm trọng. Nay chị nhận thấy, mục đích của hôn nhân không đạt được, tình cảm vợ chồng không còn, vợ chồng không thể hàn gắn đoàn tụ nên chị N yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh T.

Xét cuộc hôn nhân giữa chị N và anh T tình cảm không còn, đời sống không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Xét yêu cầu của chị N là có cơ sở và cũng phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên chấp nhận.

[4] Về con chung: Giao hai cháu Lê Nguyễn Kim N1, sinh ngày 19/9/2010 và cháu Lê Nguyễn Kim H, sinh ngày 10/10/2016 cho chị N tiếp tục nuôi dưỡng đến 18 tuổi và có khả năng lao động. Tạm thời chị N không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét giải quyết.

Anh T được quyền qua lại, thăm non, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được ngăn cản. Khi cần thiết anh T, chị N được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như cấp dưỡng việc nuôi con.

[5] Về tài sản chung và nợ chung: Do chị N, anh T không có lời khai về tài sản chung và nợ chung nên cần tách ra giải quyết khi các đương sự có yêu cầu.

[6] Về án phí: áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2006/UBTVQH 14 ngày 30/12/2006 của Uỷ ban thường vụ quốc hội. Chị Nguyễn Thị Trúc Nhi phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 26, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

- Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Nguyễn Thị Trúc N được ly hôn với anh Lê Huy T.

- Về con chung: Giao hai cháu Lê Nguyễn Kim N1, sinh ngày 19/9/2010 và cháu Lê Nguyễn Kim H, sinh ngày 10/10/2016 cho chị N nuôi dưỡng đến 18 tuổi và có khả năng lao động. Tạm thời anh Toàn không phải cấp dưỡng nuôi con.

Anh T được quyền qua lại, thăm non, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được ngăn cản. Khi cần thiết anh T, chị N được quyền quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như cấp dưỡng việc nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Do chị N anh T không có lời khai về tài sản chung và nợ chung nên cần tách ra giải quyết khi các đương sự có yêu cầu.

- Về án phí: áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2006/UBTVQH 14 ngày 30/12/2006 của Uỷ ban thường vụ quốc hội. Chị Nguyễn Thị Trúc N phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn.

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Đồng Nai;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND tỉnh Đồng Nai;

- VKSND huyện Xuân Lộc;

- Chi cục THADS huyện Xuân Lộc;

- UBND xã nơi ĐKKH;

- Các đương sự;

- Lưu án văn, hồ sơ vụ án.

Huỳnh Thị Kim Phượng

Cỡ chữ