- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phan Thị U.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 77/2022/HNGĐ-ST Ngày: 01/7/2022 V/v "Tranh chấp ly hôn ". |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ, TỈNH VĨNH LONG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Ánh Tuyết
- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Trước
2. Ông Lê Minh Toàn
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Anh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ: không tham gia phiên tòa.
Trong ngày 01 tháng 7 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 104/2022/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 02 năm 2022 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 68/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 5 năm 2022, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Phan Thị U, sinh năm 1980
Địa chỉ: Số 240/17, ấp B, xã H, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long.
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Hoàng V, sinh năm 1974 (vắng)
Địa chỉ: Số 240/17, ấp B, xã H, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và những lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Phan Thị U trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Qua quen biết tìm hiểu nhau chị và anh Nguyễn Văn Hoàng V đã tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn vào ngày 30/12/2002 tại UBND xã H, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long. Thời gian sau ngày cưới vợ chồng chung sống hạnh phúc với nhau đến năm 2012 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên cãi nhau. Anh V có thói quen uống rượu với bạn bè về chửi bới xúc phạm danh dự chị. Bản thân chị đã nhiều lần khuyên ngăn và cố gắng khắc phục mâu thuẫn tiếp tục xây dựng hạnh phúc gia đình nhưng vẫn không được. Nay chị U nhận thấy tình cảm vợ chồng giữa chị và anh V không còn do mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn, mục đích hôn nhân không đạt được, chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn Hoàng V.
- Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Hoàng N, sinh năm 1996 và Nguyễn Hoàng N, sinh năm 1999. Hiện nay 02 con chung đã trưởng thành, không yêu cầu giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung của vợ chồng: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài ra chị không có yêu cầu gì khác.
- Bị đơn Nguyễn Văn Hoàng V đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, cũng không có bản khai ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và không có cung cấp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ gì.
Tại phiên tòa:
- Nguyên đơn Phan Thị U vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
- Bị đơn Nguyễn Văn Hoàng V vắng mặt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Nguyên đơn chị Phan Thị U khởi kiện về việc xin ly hôn với bị đơn Nguyễn Văn Hoàng V có địa chỉ tại xã H, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long thụ lý và giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình theo thủ tục sơ thẩm được quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn anh Nguyễn Văn Hoàng V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa sơ thẩm nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không vì sự kiện bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với bị đơn.
Về nội dung:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Phan Thị U và anh Nguyễn Văn Hoàng V kết hôn có đăng ký kết hôn vào ngày 30/12/2002 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long do đó quan hệ hôn nhân là hợp pháp và được pháp luật công nhận theo quy định tại Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Theo nguyên đơn trình bày, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2012 thì bắt phát sinh mâu thuẫn do anh V không chăm lo cho gia đình, hay đi nhậu bên ngoài về chửi mắng chị nên vợ chồng thường cự cãi nhau. Bản thân chị U đã nhiều lần khuyên nhủ anh V thay đổi nhưng không được. Tại phiên tòa, chị U xác định không còn tình cảm với anh V, vợ chồng không thể hàn gắn được và chị vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn.
Theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình thì vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu nhau, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau và cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Xét thấy, giữa chị U và anh V phát sinh mâu thuẫn từ năm 2012 đến nay nhưng vẫn chưa giải quyết được, vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau. Mặt khác, trong quá trình giải quyết vụ án cho đến tại phiên tòa hôm nay, anh V đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nên mặc nhiên anh V cũng đã biết được nguyên nhân dẫn đến ly hôn nhưng anh vẫn chưa có văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu ly hôn của chị U. Từ đó cho thấy anh V không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng với chị U.
Vì vậy, có căn cứ để xác định bị đơn đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, xét yêu cầu của chị U yêu cầu được ly hôn với anh V là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.
- Về con chung: Trong thời gian chung sống, chị U và anh V có 02 con chung tên Nguyễn Hoàng N, sinh năm 1996 và Nguyễn Hoàng N, sinh năm 1999 hiện đã trưởng thành, chị U không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung của vợ chồng: Chị U không yêu cầu giải quyết và bị đơn anh V vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án, không có ý kiến nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
Về án phí: Buộc chị Phan Thị U phải nộp 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
- Căn cứ các Điều 9, Điều 51, Điều 56 của luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phan Thị U.
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Phan Thị U được ly hôn với anh Nguyễn Văn Hoàng V.
2. Về con chung: có 02 con chung tên Nguyễn Hoàng N, sinh năm 1996 và Nguyễn Hoàng N, sinh năm 1999 hiện đã trưởng thành, đương sự không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.
4. Về tài sản chung, nợ chung của vợ chồng: Không xem xét, giải quyết.
5. Về án phí: Buộc chị Phan Thị U nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn nhưng được trừ từ 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí mà chị U đã nộp theo biên lai thu số 0003642 ngày 22/02/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long nên chị U không phải nộp thêm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử công khai, nguyên đơn có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Vĩnh Long;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
- VKS nhân dân huyện Long Hồ;
- Chi cục THADS HLH;
- Các đương sự;
- UBND xã nơi ĐKKH;
- Lưu.
Phạm Thị Ánh Tuyết THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Phạm Thị Ánh Tuyết Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Vĩnh Long;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
- VKS nhân dân huyện Long Hồ;
- Chi cục THADS HLH;
- Các đương sự;
- UBND xã Phú Quới;
- Lưu.
Phạm Thị Ánh Tuyết THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Phạm Thị Ánh Tuyết Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Vĩnh Long;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
- VKS nhân dân huyện Long Hồ;
- Chi cục THADS HLH;
- Các đương sự;
- UBND xã Phú Quới;
- Lưu.
Phạm Thị Ánh Tuyết THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Phạm Thị Ánh Tuyết
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Vĩnh Long; VKS nhân dân huyện Long Hồ; - Chi cục THADS HLH; - Các đương sự; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM - THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Phạm Thị Ánh Tuyết |