- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ma Ry tranh chấp ly hôn, nuôi con với anh Sắc Ka Ri G"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 177 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CT | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 77/2022/HNGĐ-ST Ngày: 04-8-2022 V/v “Tranh chấp về ly hôn; nuôi con”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CT, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Mỹ Linh;
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Ngô Phúc;
2. Bà Hồ Thị Minh Tâm
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Kim Sơn - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CT tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Thu Hồng Em - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện CT xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 232/2022/TLST-HNGĐ, ngày 06 tháng 5 năm 2022 về việc: "Tranh chấp về ly hôn, nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 113/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 6 năm 2022, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Ma R, sinh năm 1991 (có đơn xin vắng mặt);
Cư trú: Tổ 3, ấp VH, xã VHa, huyện CT, An Giang.
2. Bị đơn: Anh Sắc Ka RG, sinh năm 1988 (vắng mặt);
Cư trú: Tổ 3, ấp VH, xã VHa, huyện CT, An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Ma R trình bày:
Vào khoảng năm 2008, do mai mối nên chị với anh Sắc Ka RG quyết định chung sống với nhau, hôn nhân xây dựng trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn trễ hạn theo giấy số 111, ngày 27/7/2010 tại Ủy ban nhân dân xã VHa, huyện CT, tỉnh An Giang. Sau khi cưới vợ chồng sống bên nhà mẹ chị, chung sống được 05 năm thì vợ chồng ra cất nhà ở riêng trên đất của ba chồng. Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc không được một thời gian ngắn đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn.
Nguyên nhân: Do anh Ka RG có mối quan hệ bất chính với người phụ nữ bên ngoài, thường xuyên đánh đập chị, mặc dù chị đã nhiều lần khuyên can, nhưng anh không thay đổi mà vẫn tiếp tục qua lại với người phụ nữ đó, anh RG không quan tâm đến vợ con, vợ chồng luôn bất đồng quan điểm nên thường xuyên cãi vả, không còn tôn trọng nhau. Vào khoảng tháng 04/2015 giữa chị và anh RG sống ly thân cho đến nay. Trong thời gian ly thân, chị ở nhà mẹ, anh RG không hề hỏi thăm vợ, không năn nỉ để hàn gắn tình cảm vợ chồng, không gọi điện hỏi thăm và cũng không mua đồ gì cho con. Do không thể hòa giải đoàn tụ được và nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Ma R yêu cầu được ly hôn với anh RG.
Quá trình chung sống chị và anh RG có 02 con chung tên Ma Si T, sinh ngày 13/8/2009 và Ma Hăm Mách Ha Na P, sinh ngày 29/10/2013; Hiện 02 cháu Ma Si T và Na P đang sống với chị, sau khi ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục nuôi 02 cháu Si T và cháu Ha Na P, không yêu cầu anh RG cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.
Do bận đi làm công nhân cho Công ty tại Khu công nghiệp; bên cạnh đó tình hình dịch bệnh vẫn còn đang diễn biến phức tạp, điều kiện đi tới lui rất khó khăn nên chị Ma R xin được vắng mặt tại các phiên xét xử tại Tòa án.
* Đối với bị đơn anh Sắc Ka RG: Tòa án đã nhiều lần tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng đến gia đình nhằm tạo điều kiện hòa giải đoàn tụ và hàn gắn quan hệ vợ chồng giữa hai người nhưng anh RG đều vắng mặt không lý do. Tòa án tiến hành xác minh nơi cư trú của anh RG xác định anh Sắc Ka RG có nơi cư trú tại ấp VH, xã VHa, huyện CT, tỉnh An Giang; Hiện tại anh Sắc Ka RG đi làm thường xuyên, ít có mặt tại nhà và không gửi văn bản nêu ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị Ma R.
Tại phiên tòa:
- Nguyên đơn: Chị Ma R có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Anh RG: Vắng mặt không có lý do mặc dù Tòa án đã tống đạt hợp lệ nhiều lần các văn bản tố tụng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CT phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, Thư ký Tòa án, Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử, các đương sự cũng đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật về tố tụng.
Về nội dung vụ án:
Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Ma R, giải quyết cho chị Ma R được ly hôn với anh RG; về con chung: Tiếp tục giao 02 cháu Si T và cháu Ha Na P cho chị Ma R tiếp tục nuôi dưỡng, anh RG không phải cấp dưỡng nuôi con, do chị Ma R không yêu cầu; về tài sản chung và nợ chung không có nên không đặt ra xem xét. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Ma R phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Chị Ma R và anh RG kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 27 tháng 7 năm 2010 tại Ủy ban nhân dân xã VHa, huyện CT nên được pháp luật công nhận là vợ chồng theo quy định tại Điều 8 và Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình. Nay vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nên chị Ma R yêu cầu ly hôn với anh RG. Anh RG có hộ khẩu thường trú ở ấp VH, xã VHa, huyện CT, tỉnh An Giang. Căn cứ theo quy định khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện CT, tỉnh An Giang.
- Về sự có mặt của đương sự: Chị Ma R có đơn xin xét xử vắng mặt, đơn xin vắng mặt của chị Ma R hợp lệ nên được chấp nhận. Đối với anh Sắc Ka RG là bị đơn trong vụ án, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh vẫn vắng mặt không lý do chính đáng, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan là từ bỏ quyền và nghĩa vụ của mình được pháp luật bảo vệ nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh RG theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Ma R xác nhận cuộc sống hôn nhân thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc được 05 năm, đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, cuộc sống chung không phù hợp nên chị yêu cầu được ly hôn với anh RG.
Xét thấy, cuộc sống hôn nhân vợ chồng là nhằm xây dựng một gia đình thật sự hạnh phúc, vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chăm sóc và quan tâm lẫn nhau nhưng quan hệ vợ chồng giữa chị Ma R và anh RG đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, chị Ma R xác định anh RG đã có người phụ nữ khác nên tình cảm vợ chồng không còn tồn tại. Tòa án tiến hành lấy lời khai của anh RG theo quy định, nhưng không lấy được lời khai do anh RG vắng mặt tại nhà (BL 38), anh RG thường xuyên không có mặt tại địa phương, quá trình giải quyết anh RG đều vắng mặt tại các phiên hòa giải. Mặc dù Tòa án đã tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng nhiều lần nhưng anh RG vẫn không có văn bản thể hiện ý kiến hay có nguyện vọng là muốn duy trì quan hệ hôn nhân với chị Ma R. Do đó, Hội đồng xét xử đủ cơ sở xác định tình trạng hôn nhân của chị Ma R và anh RG đã lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích hôn nhân giữa hai người không đạt được, căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân gia đình nên chấp nhận yêu cầu của chị Ma R là được ly hôn với anh Sắc Ka RG.
Về quan hệ con cái, cấp dưỡng: Chị Ma R thừa nhận 02 cháu tên Si T và cháu Ha Na P là con chung của chị và anh Sắc Ka RG, mặt khác giấy khai sinh của các cháu cũng đã thể hiện rõ điều này, do đó cần công nhận 02 cháu Si T và cháu Ha Na P là con chung của chị Ma R và anh RG, hai cháu hiện đang sống với chị Ma R. Sau khi ly hôn, chị Ma R yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung. Hội đồng xét xử xét thấy, từ khi anh, chị không còn sống chung nữa thì hai cháu Si T và cháu Ha Na P sống với chị Ma R, đồng thời Tòa án đã tiến hành lấy lời khai đối với hai cháu thì cháu Si T và cháu Ha Na P đều có nguyện vọng được sống với mẹ (BL số 26-27). Do đó, để ổn định tâm lý và đảm bảo phát triển cuộc sống cho các cháu nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Ma R là được tiếp tục nuôi dưỡng hai cháu Si T và Ha Na P.
Về tiền cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Ma R không yêu cầu anh Sắc Ka RG cấp dưỡng nuôi con, đây là sự tự nguyện và phù hợp pháp luật nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, tuy nhiên khi điều kiện kinh tế và điều kiện nuôi con có thay đổi thì các bên có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con, cấp dưỡng trong một vụ kiện khác.
Anh Sắc Ka RG có quyền tới lui, thăm nom chăm sóc, giáo dục con chung theo quy định pháp luật.
Về quan hệ tài sản, nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về án phí sơ thẩm: Do chị Ma R có yêu cầu ly hôn với anh Sắc Ka RG nên phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điều 9, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân gia đình 2014;
- Khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 177, khoản 2 Điều 227, 228, Điều 271, Điều 273, 278, 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
- Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
- Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Ma R được ly hôn với anh Sắc Ka RG. Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 111, ngày 27/7/2010 do Uỷ ban nhân dân xã VHa (huyện CT, An Giang) cấp không còn giá trị pháp lý.
2. Về quan hệ con cái, cấp dưỡng: Công nhận 02 cháu Ma Si T, sinh ngày 13/8/2009 và Ma Hăm Mách Ha Na P, sinh ngày 29/10/2013 là con chung của chị Ma R và anh Sắc Ka RG;
+ Tiếp tục giao cháu Ma Si T và Ma Hăm Mách Ha Na P cho chị Ma R được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến tuổi trưởng thành (hiện 02 cháu Ma Si T và Ma Hăm Mách Ha Na P đang sống chung với chị Ma R); Anh Sắc Ka RG không phải cấp dưỡng nuôi con cho chị Ma R, do chị Ma R không yêu cầu;
+ Chị Ma R cùng các thành viên trong gia đình (nếu có) không được cản trở anh Sắc Ka RG trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung.
+ Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
3. Về quan hệ tài sản, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.
4. Về án phí sơ thẩm: Chị Ma R phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân sơ thẩm, đã nộp tạm ứng án phí 300.000đ theo biên lai thu số 0005005 ngày 05/5/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện CT, tỉnh An Giang, được khấu trừ nên chị Ma R đã nộp xong.
5. Chị Ma R và anh Sắc Ka RG có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai hợp lệ theo quy định của pháp luật để yêu cầu xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh An Giang; - VKSND.CT; - Chi cục THADS.CT; - UBND xã VHa; - Phòng KTNV và THA; - Các đương sự (để thi hành); - Lưu văn phòng; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA Hà Thị Mỹ Linh |