vanban.org

Bản án 77/2022/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND Q. Tân Bình, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 15/04/2022 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn – Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bà Nguyễn Thị Hồng H có trách nhiệm trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Luật Thi hành án dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 77/2022/DS-ST
Ngày: 15/4/2022
V/v “ Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Hiếu.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Hoàng Thị Kim Yến;

2. Bà Nguyễn Thị Lương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Phương – Thư ký Tòa án nhân dân quận

Tân Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh

tham gia phiên tòa: Bà Võ Ngọc Liên Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 4 năm 2022 tại phòng xử án của Tòa án nhân dân quận Tân Bình

xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 261/2020/TLST-DS ngày 30/6/2020 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định xét xử số 26/2022/QĐXXST-DS ngày 16/02/2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 32/2022/QĐST-DS ngày 16/3/2022, giữa:

Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S; trụ sở tại 266 – 268 NN,

Phường TT, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Thạch Ngọc P; trú tại 33 đường số

MM, phường AA, quận Z, Thành phố Hồ Chí Minh; là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (Văn bản ủy quyền ngày 26/3/2020).

(Có mặt)

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Hồng H, sinh năm 1982; cư trú tại 281/10 LL, Phường

MX, quận X, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN :

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các biên bản lập tại Tòa, người đại diện theo

ủy quyền của nguyên đơn - Ngân hàng Thương mại Cổ phần S (sau đây gọi tắt là ngân hàng), ông Thạch Ngọc P trình bày:

Ngày 15/5/2018, bà Nguyễn Thị Hồng H (bị đơn) có ký Giấy đề nghị cấp thẻ tín

dụng kiêm Hợp đồng với Ngân hàng Thương mại Cổ phần S. Căn cứ vào thu nhập của bà H, ngân hàng đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức là 20.000.000 đồng để tiêu dùng cá nhân.

Sau khi được cấp thẻ tín dụng, phía bị đơn đã thực hiện giao dịch ngày 22/6/2018

với số tiền là 19.995.030 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, bà H đã thanh toán (bao gồm vốn, lãi, lãi phạt) là 9.155.895 đồng. Mặc dù đã làm việc, nhắc nhở nhiều lần nhưng bà H vẫn không có thiện chí trả nợ. Do bà H vi phạm nghĩa vụ thanh toán, nên vào ngày 08/3/2019, ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang dư nợ quá hạn.

Nay nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải thanh toán các khoản sau (tiền lãi tạm tính

đến ngày 16/3/2022):

- Nợ gốc là: 18.101.517 đồng;

- Nợ lãi là: 18.836.312 đồng;

Tổng cộng: 36.937.829 đồng.

Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu thanh

toán số nợ còn thiếu nói trên ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập lên tòa tự khai,

thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ nhưng bà H vẫn vắng mặt không lý do, cũng không có ý kiến gửi Tòa.

Tại phiên toà,

Đại diện nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện: yêu cầu bà H trả ngay số tiền

còn thiếu là 37.521.599 đồng, bao gồm nợ gốc là 18.101.517 đồng và nợ lãi tạm tính tới ngày 15/4/2022 là 19.420.082 đồng.

Bị đơn vắng mặt không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình phát biểu: Việc chấp hành pháp

luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền, xác định đúng tư cách pháp lý của những người tham gia tố tụng, quan hệ pháp luật tranh chấp. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm như: nguyên tắc xét xử, thành phần Hội đồng xét xử, sự có mặt của các thành viên Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa, sự có mặt của những người tham gia tố tụng tại phiên Tòa. Về việc giải quyết vụ án, do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa,

căn cứ vào lời trình bày và tranh luận của các bên đương sự tại phiên tòa, ý kiến của đại diện viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn – Ngân hàng Thương mại Cổ phần S khởi kiện

yêu cầu bà Nguyễn Thị Hồng H trả các khoản tiền còn thiếu theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm Hợp đồng ngày 15 tháng 5 năm 2018. Đây là quan hệ tranh chấp về hợp đồng vay tài sản theo quy định tại Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bà H có địa chỉ cư trú tại 281/10 LL, Phường MX, quận X, Thành phố Hồ Chí Minh nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Tân Bình theo qui định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Bị đơn - bà Nguyễn Thị Hồng H mặc dù đã được Tòa án triệp tập hợp lệ đến lần

thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Do đó, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn thanh toán khoản tiền còn

thiếu theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm Hợp đồng là 37.521.599 đồng, Hội đồng xét xử nhận thấy: Căn cứ vào Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm Hợp đồng ngày 15/5/2018, Bản tóm tắt sao kê ngày 12/3/2020 và các công văn nhắc nợ thế hiện bị đơn có yêu cầu nguyên đơn cấp thẻ tín dụng với hạn mức 20.000.000 đồng. Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu trả số nợ gốc còn lại là 18.101.517 kèm theo tiền lãi phát sinh. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng khác cho bị đơn nhưng bị đơn không có ý kiến tranh chấp hay phản đối yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Như vậy, có cơ sở để xác định bị đơn còn nợ nguyên đơn số tiền 37.521.599 đồng, bao gồm nợ gốc là 18.101.517 đồng và nợ lãi tạm tính tới ngày 15/4/2022 là 19.420.082 đồng. Việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn có trách nhiệm trả toàn bộ số công nợ còn thiếu là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu này của nguyên đơn.

Về thời hạn thanh toán, bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán đã lâu gây ảnh

hưởng tới quyền và lợi ích chính đáng của nguyên đơn nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn trả một lần toàn bộ công nợ còn thiếu ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Như đã nhận định ở trên, Hội đồng xét xử đồng ý với ý kiến của đại diện Viện

kiểm sát nhân dân quận Tân Bình tại phiên tòa về việc chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày

30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị đơn phải chịu án phí trên số tiền 37.521.599 đồng phải trả cho nguyên đơn nên án phí bị đơn phải chịu là 1.875.630 đồng.

Hoàn lại cho nguyên đơn toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b

khoản 2 Điều 227, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

Căn cứ Điều 471 Bộ luật Dân sự năm 2005;

Căn cứ Điều 26 Luật Thi hành án dân sự;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban

Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn – Ngân hàng Thương mại Cổ phần

S:

Bà Nguyễn Thị Hồng H có trách nhiệm trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S

số tiền là 37.521.599 (Ba mươi bảy triệu, năm trăm hai mươi mốt ngàn, năm trăm chín mươi chín) đồng, trong đó nợ gốc là 18.101.517 (Mười tám triệu, một trăm lẻ một ngàn, năm trăm mười bảy) đồng, nợ lãi tạm tính tới ngày 15/4/2022 là 19.420.082 (Mười chín triệu, bốn trăm hai mươi ngàn, không trăm tám mươi hai) đồng.

Phương thức thanh toán: Thanh toán một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp

luật.

Bà Nguyễn Thị Hồng H phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất nợ quá hạn

quy định tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 15/5/2018 đã ký tính từ ngày 16/4/2022 cho đến khi trả dứt nợ.

2. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Hồng H phải chịu án phí sơ thẩm là 1.875.630 (Một

triệu, tám trăm bảy mươi lăm ngàn, sáu trăm ba mươi) đồng.

Hoàn lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là

566.375 (Năm trăm sáu mươi sáu ngàn, ba trăm bảy mươi lăm) đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0016495 ngày 16/6/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình.

3. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15

ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi

hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ