vanban.org

Bản án 77/2021/HSST — Hình sự

TAND Q. Ô Môn, TP. Cần Thơ Tuyên án 25/10/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Mai Thị H phạm tội Đánh bạc.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt: Bị cáo Mai Thị H 06 (sáu) tháng tù. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mai Thị Hường - phạm tội đánh bạc (điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Mai Thị H phạm tội Đánh bạc.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị; Điều 321 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN M
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 77/2021/HSST
Ngày: 25-10-2021

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN M – THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lưu Thị Hồng Nương.

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Hồ Minh Khương

2/ Bà Ngô Thị Út Hậu

- Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Thu Hiền – Thư ký Tòa án nhân dân quận M.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận M tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Bảo Trân - Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 25 tháng 10 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận M, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 50/2021/HSST ngày 23 tháng 6 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 90/2021/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 10 năm 2021 đối với bị cáo:

Mai Thị H

Tên gọi khác: không;

Ngày tháng năm sinh: 1969;

Nơi sinh: Cần Thơ;

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: khu vực 15, phường C, quận M, thành phố Cần Thơ;

Nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn (văn hóa): không biết chữ; dân tộc: Khmer; giới tính: nữ; tôn giáo: Đạo phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào C, sinh năm 1934 (chết) và bà Mai Thị S, sinh năm: 1942 (sống); chị ruột có 01 người, sinh năm 1966; chồng: Đào V, sinh năm 1965 (đã ly hôn); con: có 02 người, lớn nhất sinh năm 1989, nhỏ nhất sinh năm 1993;

Tiền sự: 01 lần. Vào ngày 10/3/2020 bị Công an pH C, quận M, thành phố Cần Thơ xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 1.500.000 đồng về hành vi Đánh bạc trái phép, đóng phạt ngày 28/4/2020. (chưa được xóa).

Tiền án: không

Bị cáo Mai Thị H đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. Trịnh Thị Tuyết N, sinh năm 1984 (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: Khu vực 13, phường C, quận M, TP Cần Thơ.

2. Huỳnh Văn T, sinh năm 1984 (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp Đ, xã Đ, huyện C, TP Cần Thơ.

3. Lý Phƣớc T, sinh năm 1971 (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: khu vực T, phường T, quận M, TP Cần Thơ.

4. Lý Hoa P, sinh năm 1995 (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: Khu vực 03, phường C, quận M, TP Cần Thơ.

5. Trần Minh H, sinh năm 1994 (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: Khu vực 03, phường C, quận M, TP Cần Thơ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 15 giờ ngày 11 tháng 3 năm 2021, Công an phường C, quận M, thành phố Cần Thơ phát hiện tại hành lang nhà trọ H thuộc khu vực 3, phường C, quận M, thành phố Cần Thơ có 04 đối tượng gồm: Mai Thị H và Trịnh Thị Tuyết N, sinh năm 1984, cư trú khu vực 13, phường C, quận M, thành phố Cần Thơ; Huỳnh Văn T sinh năm 1984, cư trú ấp Đ, xã Đ, huyện C, thành phố Cần Thơ; Lý Phước T sinh năm 1971, cư trú khu vực T, phường P, quận M, thành phố Cần Thơ đang đánh bạc ăn thua bằng tiền. Ngoài ra, còn có chị Lý Hoa P sinh năm 1995, cư trú khu vực 13, phường C, quận M, thành phố Cần Thơ đang có mặt tại hiện trường nên mời tất cả về làm việc (Bút lục: 18).

Qua điều tra chứng minh được: Mai Thị H, Trịnh Thị Tuyết N, Huỳnh Văn Thuyền, Lý Phước T tham gia đánh bạc ăn thua bằng tiền, hình thức là đánh bài cào 03 lá, quy định đặt thấp nhất là 10.000 đồng và cao nhất là 30.000 đồng, Huỳnh Văn T là người làm cái, còn N, Lý Phước T và H là người đặt. Lý Phước T mang theo 20.000 đồng (hai mươi nghìn đồng) sử dụng đánh bạc không thắng không thua, còn 20.000 đồng để tại chiếu bạc; Huỳnh Văn T mang theo 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng) sử dụng đánh bạc, không thắng không thua còn lại 100.000 đồng để tại chiếu bạc; Trịnh Thị Tuyết N mang theo số tiền 150.000 đồng (một trăm năm mươi nghìn đồng) thua 20.000 đồng, để tại chiếu bạc 20.000 đồng; Mai Thị H mang theo 150.000 đồng, thắng 20.000 đồng.Tổng số tiền Mai Thị H, Huỳnh Văn T, Lý Phước T và Trịnh Thị Tuyết N sử dụng vào việc đánh bạc là 420.000 đồng (bốn trăm hai mươi nghìn đồng). (Bút lục: 31- 68)

Đối với Huỳnh Văn T, Lý Phước T và Trịnh Thị Tuyết N có tham gia đánh bạc ăn thua bằng tiền nhưng số tiền sử dụng cho việc đánh bạc dưới 5.000.000 đồng và chưa có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc nên Công an quận M đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính (Bút lục: 15-17).

Bị cáo Mai Thị H có 01 tiền sự, vào ngày 10/3/2020 bị công an pH C xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 1.500.000 đồng về hành vi Đánh bạc trái phép, đóng phạt ngày 28/4/2020 chưa được xóa nên H phải chịu trách nhiệm hình sự về tội Đánh bạc (Bút lục: 104- 106).

Riêng, chị Lý Hoa P, Cơ quan điều tra chứng minh không tham gia đánh bạc ăn thua bằng tiền nên không đủ cơ sở xử lý (Bút lục: 21- 24)

Đối với địa điểm mà các đối tượng dùng để đánh bạc là của anh Trần Minh H quản lý, nhưng anh không biết các đối tượng trên đến đánh bạc ở hành lang nhà trọ của anh, do anh không có mặt ở nhà trọ, anh không tổ chức và thu tiền xâu, nên không đủ cơ sở xử lý (Bút lục: 25- 26)

Vật chứng thu giữ: 01 bộ bài tây 52 lá đã qua sử dụng; 01 tấm bìa carton bằng giấy kích thước khoảng 01 mét ngang khoảng 01 mét, đã qua sử dụng; Tiền Việt Nam là 420.000 đồng (trong đó tiền trên chiếu bạc là 140.000 đồng và tiền thu giữ trên người của Mai Thị H là 170.000 đồng; Trịnh Thị Tuyết N là 110.000 đồng) (Bút lục: 126-128).

Tại Bản cáo trạng số 51/CT-VKS-OM ngày 16 tháng 6 năm 2021 Viện Trưởng Viện kiểm sát nhân dân quận M, thành phố Cần Thơ đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân quận M, thành phố Cần Thơ để xét xử bị cáo Mai Thị H về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận M trình bày lời luận tội vẫn giữ quan điểm truy tố bị cáo Mai Thị H theo tội danh và điều luật đã nêu trong cáo trạng. Đồng thời, phân tích những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 1 Điều 321; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo mức án 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù.

Về vật chứng trong vụ án đề nghị áp dụng: Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tây 52 lá đã qua sử dụng; 01 tấm bìa carton bằng giấy kích thước khoảng 01 mét ngang khoảng 01 mét đã qua sử dụng;

Tịch thu sung quỹ Nhà nước: Tiền Việt Nam là 420.000 đồng (trong đó tiền trên chiếu bạc là 140.000 đồng và tiền thu giữ trên người của Mai Thị H là 170.000 đồng; Trịnh Thị Tuyết N là 110.000 đồng).

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và rất ăn năn hối cải xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có người nào khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong vụ án. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.

Về căn cứ buộc tội: Lời khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo tại phiên tòa; lời khai của bị cáo thể hiện tại các biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung bị can; Biên bản vụ việc ngày 11/3/2021; Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0013684/QĐ-XPHC ngày 10/3/2020 của Công an phường C; Biên bản ghi lời khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, các tang vật và chứng cứ khác thu thập trong hồ sơ vụ án. Đủ căn cứ và cơ sở kết luận:

Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 11 tháng 3 năm 2021, tại hành lang nhà trọ H thuộc khu vực 13, phường C, quận M, TP Cần Thơ, Công an phường C phát hiện bị cáo Mai Thị H cùng các đối tượng gồm Huỳnh Văn T, Lý Phước Tvà Trịnh Thị Tuyết N đang thực hiện hành vi đánh bài trái phép ăn thua bằng tiền, hình thức đánh bài cào 03 lá ăn thua bằng tiền, quy định đặt thấp nhất là 10.000 đồng và cao nhất là 30.000 đồng, Huỳnh Văn T là người làm cái, còn N, Lý Phước T và H là người đặt, đang đánh đến ván thứ 5 thì công an phát hiện mời về làm việc. Quá trình điều tra chứng minh được tổng số tiền bị cáo Mai Thị H cùng các đối tượng Huỳnh Văn T, Lý Phước T và Trịnh Thị Tuyết N dùng vào việc đánh bạc là 420.000 đồng (dưới 5.000.000 đồng) nhưng bản thân bị cáo Mai Thị H có 01 tiền sự vào ngày 10/3/2020 bị Công an phường C xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 1.500.000 đồng về hành vi Đánh bạc trái phép, đóng phạt ngày 28/4/2020 chưa được xóa mà còn vi phạm, nên hành vi đánh bạc trái phép ăn thua bằng tiền này của bị cáo đủ yếu tố cấu thành “Tội đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Do đó, việc đưa ra truy tố, xét xử đối với bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

Về tính chất hành vi phạm tội: Bị cáo là công dân Việt Nam, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự do hành vi của bản thân gây ra. Bị cáo biết hành vi đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền là vi phạm pháp luật, xâm phạm đến an ninh trật tự xã hội tại địa phương nhưng vì hám lợi, ham mê cờ bạc nên đã thực hiện hành vi phạm tội. Bản thân bị cáo có một tiền sự về hành vi đánh bạc nhưng không lấy đó làm răn đe lại tiếp tục tham gia đánh bạc thể hiện sự liều lĩnh xem thường pháp luật của bị cáo. Do vậy, để có tác dụng giáo dục, răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội cần xử phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.

Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử có xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo khi lượng hình thể hiện tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật.

Về xử lý vật chứng: xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận M là phù hợp nên chấp nhận.

Đối với Huỳnh Văn T, Lý Phước Thuyền, Trịnh Thị Tuyết N chưa có tiền án, tiền sự về về hành vi Đánh bạc, Gá bạc và Tổ chức đánh bạc nên Công an quận M đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp.

Chị Lý Hoa P: Cơ quan điều tra chứng minh không tham gia đánh bạc ăn thua bằng tiền nên không đủ cơ sở xử lý.

Đối với địa điểm mà các đối tượng đã dùng để đánh bạc là của anh Trần Minh H quản lý, nhưng anh không biết các đối tượng trên đến đánh bạc ở hành lang nhà trọ của anh, do anh không có mặt ở nhà trọ, anh không tổ chức và thu tiền xâu, nên không đủ cơ sở xử lý.

Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Tuyên bố: Bị cáo Mai Thị H phạm tội Đánh bạc.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Mai Thị H 06 (sáu) tháng tù.

Thời hạn phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.

Tịch thu sung quỹ Nhà nước tiền Việt Nam là 420.000 đồng (Trong đó trong đó tiền trên chiếu bạc là 140.000 đồng; tiền thu giữ trên người của Mai Thị H là 170.000 đồng; của Trịnh Thị Tuyết N là 110.000 đồng).

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bộ bài tây 52 lá đã qua sử dụng; 01 (một) tấm bìa carton bằng giấy kích thước khoảng 01 m, ngang khoảng 01 m, đã qua sử dụng;

(Vật chứng hiện do Chi cục Thi hành án dân sự quận M quản lý).

Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, các đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án; đối với các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ