- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ văn V cùng đồng phạm mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
- Tòa quyết gì? Áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo Đỗ Văn V.
- Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ R TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 77/2021/HS-ST Ngày: 08-12-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ R, TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Hồng Công
Các hội thẩm nhân dân:
Ông Mai Như Chi
Ông Đinh Văn Liêm
* Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Hiên - Thư ký Toà án nhân dân thành phố R
* Đại Y Viện kiểm sát nhân dân thành phố R tham gia phiên tòa: Ông Trần Đình Tú - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố R xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 110/2021/TLST-HS ngày 05 tháng 10 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 100/2021/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 11 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 36/2021/QĐST-HS ngày 30 tháng 11 năm 2021 đối với các bị cáo:
1. Đỗ Văn V (Tên gọi khác: V Cá Chẽm), sinh ngày 29/7/1990 tại Khánh Hòa. Nơi cư trú: Tổ dân phố HD, phường CPB, thành phố R, tỉnh Khánh Hòa. Nghề Nghiệp: Lao động tự do. Dân tộc: Kinh. Tôn Giáo: Không. Văn hóa: 8/12. Quốc tịch: Việt Nam. Cha: Đỗ Văn N, sinh năm: 1967. Mẹ: Phạm Thị CH, sinh 1966. Vợ: Huỳnh Thị Mỹ D, sinh năm: 1998. Con: Có 01 con sinh năm 2021. Tiền án: Không. Tiền sự: Ngày 15/8/2019, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường CPB, thành phố R áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn trong thời hạn 03 tháng, chấp hành xong ngày 13/11/2019. Bị cáo bị bắt từ ngày 18/5/2021. (Bị cáo V có mặt).
2. Nguyễn Thạch Hoàng A (Tên gọi khác: Mập), sinh ngày: 05/6/2002 tại Khánh Hòa. Nơi cư trú: Tổ dân phố HE, phường CPB, thành phố R, tỉnh Khánh Hòa. Nghề Nghiệp: Không. Dân tộc: Kinh. Tôn Giáo: Không. Văn hóa: 6/12. Quốc tịch: Việt Nam. Cha: Nguyễn Văn D, sinh năm: 1978. Mẹ: Nguyễn Thị Thúy G, sinh 1985. Vợ, con: Chưa. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giam từ ngày 14/12/2020 đến ngày 03/6/2021 áp dụng biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh; bị cáo bị bắt từ ngày 19/10/2021. (Bị cáo A có mặt)
* Người làm chứng:
+ Võ Duy T, sinh năm: 2000; Nơi cư trú: Tổ dân phố HE, phường CPB, thành phố R, tỉnh Khánh Hòa.
+ Trần Anh I, sinh năm: 2002; Nơi cư trú: Tổ dân phố HĐ, phường CPB, thành phố R, tỉnh Khánh Hòa.
+ Nguyễn Văn Q, sinh năm: 2003; Nơi cư trú: Tổ dân phố HĐ, phường CPB, thành phố R, tỉnh Khánh Hòa.
+ Đào Toàn Y, sinh năm: 1997; Nơi cư trú: Tổ dân phố HD, phường CPB, thành phố R, tỉnh Khánh Hòa.
+ Huỳnh Cao H, sinh năm: 2000; Nơi cư trú: Tổ dân phố HE phường CPB, thành phố R, tỉnh Khánh Hòa.
+ Lê Văn T U, sinh năm: 1990; Nơi cư trú: Tổ dân phố HD, phường CPB, thành phố R, tỉnh Khánh Hòa.
+ Trần Đức T H, sinh năm: 1997; Nơi cư trú: Tổ dân phố HĐ, phường CPB, thành phố R, tỉnh Khánh Hòa.
+ Ngô Nhật Q U, sinh năm: 1991; Nơi cư trú: Thôn HG, xã CTN, thành phố R, tỉnh Khánh Hòa.
+ Phạm Thị CH, sinh năm: 1966; Nơi cư trú: Tổ dân phố HD, phường CPB, thành phố R, tỉnh Khánh Hòa.
(Bà Phạm Thị CH có mặt, các người làm chứng khác vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng đầu tháng 11/2020, Đỗ Văn V rủ Nguyễn Thạch Hoàng A đến nhà V ở tổ dân phố HD, phường CPB, thành phố R, tỉnh Khánh Hòa để bán ma túy cho V. V cho A ở tại nhà và cho A sử dụng nhà để làm địa điểm sửa chữa xe. A đồng ý. V đưa cho A 01 bịch ma túy, A phân nhỏ thành nhiều bịch để bán.
Từ ngày 09/12/2020 đến ngày 14/12/2020, A đã nhiều lần bán ma túy cho V tại nhà V, sau đó A đưa tiền bán ma túy cho V. Cụ thể như sau:
Lần 1: vào ngày 09/12/2020, A bán 01 bịch ma túy với giá 200.000 đồng cho Trần Anh I.
Lần 2: Khoảng 19 giờ ngày 10/12/2020, A bán 01 bịch ma túy với giá 200.000 đồng cho Đào Toàn Y.
Lần 3: Khoảng 20 giờ ngày 10/12/2020, A bán 01 bịch ma túy với giá 200.000 đồng cho Võ Duy T.
Lần 4: Khoảng 17 giờ ngày 12/12/2020, A bán 01 bịch ma túy với giá 150.000 đồng cho Trần Đức T H.
Lần 5: Khoảng 20 giờ ngày 12/12/2020, A bán 01 bịch ma túy với giá 200.000 đồng cho Lê Văn T U.
Lần 6: Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 12/12/2020, A bán 01 bịch ma túy với giá 200.000 đồng cho Trần Anh I.
Lần 7: Khoảng 17 giờ ngày 13/12/2020, A bán 01 bịch ma túy với giá 200.000 đồng cho Huỳnh Cao H.
Lần 8: Khoảng 20 giờ ngày 13/12/2020, A bán 01 bịch ma túy với giá 200.000 đồng cho Võ Duy T.
Lần 9: Khoảng 18 giờ ngày 14/12/2020, Nguyễn Văn Q liên lạc với A qua ứng dụng Messenger để hỏi mua 4.000.000 đồng ma túy sử dụng. A đồng ý. A liên lạc với V qua ứng dụng Messenger nói Q hỏi mua 4.000.000 đồng ma túy. V đồng ý. Sau đó V điều khiển xe mô tô về nhà lấy 01 bịch ma túy đưa A. Đến khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, A chuẩn bị giao 01 bịch ma túy cho Q thì bị bắt quả tang. Thu giữ trên tay A 01 bịch ma túy (ký hiệu A). Thu của Q số tiền 4.000.000 đồng.
Tiến hành khám xét khẩn cấp nhà của V phát hiện, thu giữ: 01 bịch nilong có 01 đầu khóa mép, bên trong có chứa chất tinh thể rắn màu trắng (ký hiệu B); 01 bịch nilong có 01 đầu khóa mép, bên trong chứa 04 bịch nilong (02 bịch nilong viền xA, 02 bịch nilong viền đỏ) có chứa chất tinh thể rắn màu trắng (ký hiệu C); 01 khẩu súng màu đen bằng kim loại, dài 20cm (ký hiệu D).
Ngoài ra, Đào Toàn Y, Ngô Nhật Q U khai nhận vào khoảng tháng 02/2020, 4/2020 Y, Q U mua ma túy trực tiếp từ Đỗ Văn V tại nhà V. Tuy nhiên, V không thừa nhận.
Tại bản kết luận giám định số 11/GĐTP/2021 ngày 21/12/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Khánh Hòa kết luận: Chất tinh thể màu trắng trong mẫu ký hiệu A là ma túy có khối lượng 4,7212g loại Methamphetamine; Chất tinh thể màu trắng trong mẫu ký hiệu B là ma túy có khối lượng 3,8490g loại Methamphetamine; Chất tinh thể màu trắng trong mẫu ký hiệu C là ma túy có khối lượng 0,5944g loại Methamphetamine.
Tại bản kết luận giám định số 09/GĐ-GT/2021 ngày 24/02/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Khánh Hòa kết luận: Khẩu súng gửi giám định là loại vũ khí bắn bằng khí nén, sử dụng loại đạn chì hình nấm cỡ 4,5mm; không phải vũ khí quân dụng và không có tính năng, tác dụng tương tự vũ khí quân dụng. Súng không nằm trong danh mục vũ khí thể thao nhưng có tính năng, tác dụng tương tự vũ khí thể thao.
Đối với V khai nhận mua ma túy của người thanh niên tại thành phố Hồ Chí Minh; Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố R chưa xác định được lai lịch nên tiếp tục điều tra làm rõ xử lý sau.
Đối với A, V có hành vi tàng trữ 01 khẩu súng là loại súng bắn bằng khí nén, sử dụng loại đạn chì hình nấm cỡ 4,5mm; không phải vũ khí quân dụng và không có tính năng, tác dụng tương tự vũ khí quân dụng. Súng không nằm trong danh mục vũ khí thể thao nhưng có tính năng, tác dụng tương tự vũ khí thể thao nên không truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi này. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố R đã quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với A, V.
Đối với bà Phạm Thị CH không biết V, A sử dụng nhà của mình để bán ma túy nên không truy cứu trách nhiệm hình sự.
Tại bản cáo trạng số 83/CT-VKSCR-HS ngày 05/10/2021, Viện kiểm sát nhân dân thành phố R đã truy tố các bị cáo V, A về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo V, A về điều khoản như trên của bản cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, i khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo V, A; xử phạt bị cáo V từ 09-10 năm tù; xử phạt bị cáo A từ 08-09 năm tù. Về vật chứng vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu, tiêu hủy 04,0337g ma túy loại Methamphetamine được niêm phong trong phong bì ký hiệu A và 3,2740g ma túy loại Methamphetamine được niêm phong trong phong bì ký hiệu B có chữ ký của giám định viên và hình dấu của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Khánh Hòa; 01 hộp kim loại màu đen viền đỏ; 118 bịch nilong có một đầu khóa mép; 01 bị nilong bên trong có chứa nhiều bịch nilong nhỏ; 01 bịch nilong trên bịch có ghi số 10; 05 bịch nilong bên trong có nhiều bịch nilong nhỏ trên bịch ghi số 15; 02 bịch nilong bên trong có nhiều bịch nilong nhỏ trên bịch ghi số 20; 05 bịch nilong bên trong có nhiều bịch nilong nhỏ trên bịch ghi số 25; 01 bịch nilong bên trong có nhiều bịch nilong nhỏ; 30 đoạn ống hút nhựa màu trắng; Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu vàng trắng, số imel: 353109118401910 gắn sim số 0563310000, số tiền 4.000.000đ (Bốn triệu đồng) được nộp vào tài khoản 3949.0.9041629.00000 của Công an thành phố R tại Kho bạc Nhà nước R.
Lời nói sau cùng của các bị cáo V, A trước khi Hội đồng xét xử nghị án: Các bị cáo ăn năn hối hận vì đã gây ra hành vi vi phạm pháp luật nên đề nghị Tòa án giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được trA tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà đã tuân thủ và thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Trong hồ sơ và tại phiên tòa, bị cáo Đỗ Văn V, Nguyễn Thạch Hoàng A đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của các bị cáo. Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với lời khai người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Từ ngày 09/12/2020 đến ngày 14/12/2020, tại nhà Đỗ Văn V ở tổ dân phố HD, phường CPB, thành phố R, tỉnh Khánh Hòa; Đỗ Văn V có hành vi nhờ Nguyễn Thạch Hoàng A bán ma túy cho mình. A đồng ý và đã 08 (tám) lần bán ma túy cho Trần Anh I, Võ Duy T, Đào Toàn Y, Trần Đức T H, Lê Văn T U, Huỳnh Cao H. Đến khoảng 19 giờ 30 phút ngày 14/12/2020, khi A đang chuẩn bị bán ma túy cho Nguyễn Văn Q thì bị phát hiện. Thu giữ của A 4,7212 gam ma túy loại Methamphetamine, thu giữ của V 4,4434 gam ma túy loại Methamphetamine. Tổng số ma túy thu giữ là 9,1646 gam ma túy loại Methamphetamine.
Hành vi của các bị cáo V, A có đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (“Phạm tội 02 lần trở lên”, “…Methamphetamine… có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam.”). Do đó, cáo trạng số 83/CT-VKSCR-HS ngày 05/10/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố R truy tố các bị cáo V, A về điều khoản như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi của các bị cáo V, A là rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền quản lý độc quyền về các chất ma túy của Nhà nước là một trong những khách thể quan trọng được Luật hình sự bảo vệ, làm lan truyền các bệnh truyền nhiễm cho xã hội, gây hoang mang lo lắng trong cộng đồng dân cư, gây mất an ninh trật tự an toàn xã hội. Do đó, cần phải xử lý các bị cáo nghiêm khắc để giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.
Xét vai trò, tính chất của các bị cáo: Bị cáo V là người chỉ H bị cáo A thực hiện tội phạm và cũng là người thực hành tội phạm tích cực. Bị cáo A thực hành tội phạm tích cực với vai trò giúp sức cho bị cáo V. Do đó, mức hình phạt của bị cáo V phải cao hơn bị cáo A.
Tuy nhiên, trong hồ sơ và tại phiên tòa các bị cáo V, A thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo V từng tham gia nghĩa vụ quân sự từ ngày 09/9/2008 đến ngày 27/01/2010. Vì vậy, cần giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo, để các bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo trở thành người công dân tốt cho gia đình và xã hội.
Về vật chứng vụ án:
- 4,0337g (Bốn phẩy không ba ba bảy gam) ma túy loại Methamphetamine. được niêm phong trong phong bì ký hiệu A có chữ ký của giám định viên và hình dấu của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Khánh Hòa và 3,2740g (Ba phẩy hai bảy bốn không gam) ma túy loại Methamphetamine được niêm phong trong phong bì ký hiệu B có chữ ký của giám định viên và hình dấu của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Khánh Hòa là vật chứng cấm lưu hành nên Hội đồng xét xử tịch thu, tiêu hủy.
- 01 (một) hộp giấy kích thước (24x11x10)cm, bên trong có 55 (năm mươi lăm) đoạn ống thủy; 02 (hai) cây kéo bằng kim loại; 01 (một) cân tiểu li màu đen; 01 (một) chai nước bằng nhụa có nắp màu trắng và một lỗ gắn đoạn ống thủy tinh có một đầu hình cầu; 01 (một) ống hút nhựa màu đen có một đầu được vót nhọn và một đầu hàn kín; 01 (một) hộp kim loại màu đen viền đỏ, kích thước (09x15x8,5)cm; 118 bịch nylong có một đầu khóa mép, gồm các kích thước (02x02)cm, (02x2,4)cm, (2,5x2,8)cm, (03x03)cm; 01 bị nylong, kích thước (12x8)cm, bên trong có nhiều bịch nylong nhỏ kích thước (02x02)cm, trên bịch có ghi số “10”; 01 bịch nylong, kích thước (07x10)cm, bên trong có nhiều bịch nylong nhỏ kích thước (2,5x2,8)cm, trên bịch ghi số “15”; 01 bịch nylong, kích thước (12x8)cm, bên trong có nhiều bịch nylong nhỏ kích thước (2,5x2,8)cm, trên bịch ghi số “15”; 03 bịch nylong, kích thước (12x8)cm, bên trong có nhiều bịch nylong nhỏ kích thước (02x2,4)cm, trên bịch ghi số “15”; 03 bịch nylong, kích thước (12x8)cm, bên trong có nhiều bịch nylong nhỏ kích thước (03x03)cm, trên bịch ghi số “25”; 01 bịch nylong, kích thước (12,5x8)cm, bên trong có nhiều bịch nylong nhỏ kích thước (2,5x2,5)cm, trên bịch ghi số “20”; 01 bịch nylong, kích thước (07x10)cm, bên trong có nhiều bịch nylong nhỏ kích thước (2,5x2,8)cm, trên bịch ghi số “20”; 01 bịch nylong, kích thước (07x9,5)cm, bên trong có nhiều bịch nylong nhỏ kích thước (3x3)cm, trên bịch ghi số “25”; 01 bịch nylong, kích thước (12,5x8)cm, bên trong có nhiều bịch nylong nhỏ kích thước (3x3)cm, trên bịch ghi số “25”; 01 bịch nylong, kích thước (9x5,5)cm, bên trong có nhiều bịch nylong nhỏ kích thước (02x02)cm, (02x2,4)cm, (2,5x2,8)cm; 30 (ba mươi) đoạn ống hút nhựa màu trắng là vật chứng không có giá trị sử dụng nên Hội đồng xét xử tịch thu, tiêu hủy.
- 01 (Một) điện thoại di động hiệu Iphone màu vàng trắng, số imel: 357993057992484 (tại thời điểm giao nhận chiếc điện thoại di động đã cũ và đã qua sử dụng, máy không khởi động được nên không kiểm tra được chất lượng máy và số Imel) là tài sản của bị cáo A dùng để làm phương tiện phạm tội nên Hội đồng xét xử tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.
- Số tiền 4.000.000 (Bốn triệu) đồng đã nộp vào số tài khoản 3949.0.9041629.00000 của Công an thành phố R tại Kho bạc Nhà nước R là tiền do bị cáo A phạm tội mà có nên Hội đồng xét xử tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.
Về án phí: Các bị cáo V, A mỗi người phải nộp 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng điểm b, i khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015; khoản 2 Điều 106, khoản 2, 3 Điều 136, khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án đối với bị cáo Đỗ Văn V, Nguyễn Thạch Hoàng A.
Áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo Đỗ Văn V.
1. Xử phạt:
Bị cáo Đỗ Văn V 09 (chín) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn phạt tù tính từ ngày 18/5/2021.
Bị cáo Nguyễn Thạch Hoàng A 08 (tám) tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn phạt tù tính từ ngày 19/10/2021, thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/12/2020 đến ngày 03/6/2021 được trừ vào thời hạn chấp hành án.
2. Về vật chứng vụ án:
- Tịch thu, tiêu hủy 4,0337g (Bốn phẩy không ba ba bảy gam) ma túy loại Methamphetamine được niêm phong trong phong bì ký hiệu A và 3,2740g (Ba phẩy hai bảy bốn gam) ma túy loại Methamphetamine được niêm phong trong phong bì ký hiệu B có chữ ký của giám định viên và hình dấu của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Khánh Hòa; 01 (một) hộp giấy kích thước (24x11x10)cm, bên trong có 55 (năm mươi lăm) đoạn ống thủy; 02 (hai) cây kéo bằng kim loại; 01 (một) cân tiểu li màu đen; 01 (một) chai nước bằng nhụa có nắp màu trắng và một lỗ gắn đoạn ống thủy tinh có một đầu hình cầu; 01 (một) ống hút nhựa màu đen có một đầu được vót nhọn và một đầu hàn kín; 01 (một) hộp kim loại màu đen viền đỏ, kích thước (09x15x8,5)cm; 118 bịch nylong có một đầu khóa mép, gồm các kích thước (02x02)cm, (02x2,4)cm, (2,5x2,8)cm, (03x03)cm; 01 bị nylong, kích thước (12x8)cm, bên trong có nhiều bịch nylong nhỏ kích thước (02x02)cm, trên bịch có ghi số “10”; 01 bịch nylong, kích thước (07x10)cm, bên trong có nhiều bịch nylong nhỏ kích thước (2,5x2,8)cm, trên bịch ghi số “15”; 01 bịch nylong, kích thước (12x8)cm, bên trong có nhiều bịch nylong nhỏ kích thước (2,5x2,8)cm, trên bịch ghi số “15”; 03 bịch nylong, kích thước (12x8)cm, bên trong có nhiều bịch nylong nhỏ kích thước (02x2,4)cm, trên bịch ghi số “15”; 03 bịch nylong, kích thước (12x8)cm, bên trong có nhiều bịch nylong nhỏ kích thước (03x03)cm, trên bịch ghi số “25”; 01 bịch nylong, kích thước (12,5x8)cm, bên trong có nhiều bịch nylong nhỏ kích thước (2,5x2,5)cm, trên bịch ghi số “20”; 01 bịch nylong, kích thước (07x10)cm, bên trong có nhiều bịch nylong nhỏ kích thước (2,5x2,8)cm, trên bịch ghi số “20”; 01 bịch nylong, kích thước (07x9,5)cm, bên trong có nhiều bịch nylong nhỏ kích thước (3x3)cm, trên bịch ghi số “25”; 01 bịch nylong, kích thước (12,5x8)cm, bên trong có nhiều bịch nylong nhỏ kích thước (3x3)cm, trên bịch ghi số “25”; 01 bịch nylong, kích thước (9x5,5)cm, bên trong có nhiều bịch nylong nhỏ kích thước (02x02)cm, (02x2,4)cm, (2,5x2,8)cm; 30 (ba mươi) đoạn ống hút nhựa màu trắng.
- Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 (Một) điện thoại di động hiệu Iphone màu vàng trắng, số imel: 357993057992484 (tại thời điểm giao nhận chiếc điện thoại di động đã cũ và đã qua sử dụng, máy không khởi động được nên không kiểm tra được chất lượng máy và số Imel).
(Tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 08 tháng 10 năm 2021 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố R và Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố R)
- Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền 4.000.000 (Bốn triệu) đồng được nộp vào tài khoản 3949.0.9041629.00000 của Công an thành phố R tại Kho bạc Nhà nước R.
3. Về án phí:
Bị cáo Đỗ Văn V phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Nguyễn Thạch Hoàng A phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.
4. Bị cáo Đỗ Văn V, Nguyễn Thạch Hoàng A có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Khánh Hòa; - Sở tư pháp tỉnh Khánh Hòa; - VKSND tỉnh Khánh Hòa; - Phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an tỉnh Khánh Hòa; - Cơ sở Cai nghiện ma túy tỉnh Khánh Hòa; - VKSND t.p R; - Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an t.p R; - Cơ quan thi hành án hình sự t.p R; - CCTHADS t.p R; - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng khác; - Lưu án văn, hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Hồng Công |