- Tranh chấp gì? án hình sự — "truy tố bị cáo Nguyễn Văn P về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, c khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. - phạm tội mua bán t…"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P 09 (chín) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 77/2021/HS-ST Ngày 10 - 9 -2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Thị Kim Thu.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Hữu Nghĩa;
2. Bà Nguyễn Thị Thân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lâm Thị Ngọc Triều - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Tới - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 9 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 83/2021/TLST-HS ngày 24 tháng 8 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 76/2021/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2021 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn P, sinh năm 1980 tại tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: Ấp T1, xã T2, huyện T3, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C1 (đã chết) và bà Lê Thị C2; bị cáo có vợ Nguyễn Thị H (đã chết) và 02 con; tiền án: Không có; tiền sự: Có 01 tiền sự, tại quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính số 26/QĐ-TA ngày 28/5/2019 của Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 15 tháng, chấp hành xong ngày 11/02/2020, chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính; nhân thân: Tại Bản án số 18/2007/HSST ngày 09/02/2007 Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh xử phạt Nguyễn Văn P 09 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”, đã chấp hành xong hình phạt chính, tiền phạt và án phí, đã được xóa án tích.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 03/6/2021 đến ngày 09/6/2021 chuyển sang tạm giam cho đến nay, “Có mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Để có tiền sử dụng ma túy và tiêu xài cá nhân, từ đầu tháng 4/2021 đến ngày 03/6/2021, Nguyễn Văn P mua ma túy của người tên “H1”, không rõ nhân thân, lai lịch ở khu vực xã T2, huyện T3, tỉnh Tây Ninh 07 lần, mỗi lần 01 bịch ma túy với giá 500.000 đồng rồi mang về nhà phân chia ma túy ra thành nhiều bịch nhỏ để sử dụng và bán. Khi những người nghiện ma túy trên địa bàn huyện T3 có nhu cầu thì điện thoại cho P để thỏa thuận số lượng, giá cả và địa điểm giao nhận ma túy. Cụ thể như sau:
- Từ đầu tháng 5/2021 đến giữa tháng 5/2021, P bán ma túy cho Hồ Văn Đ, sinh năm 1999, ngụ ấp T1, xã T2, huyện T3, tỉnh Tây Ninh 02 lần, mỗi lần 01 bịch ma túy với giá từ 200.000 đồng đến 300.000 đồng.
- Trong tháng 5/2021, P bán ma túy cho Tạ Duy K, sinh năm 1993, ngụ ấp T1, xã T2, huyện T3, tỉnh Tây Ninh 02 lần, mỗi lần 01 bịch ma túy, với giá 300.000 đồng. Đến 14 giờ 30 phút ngày 03/6/2021, P tiếp tục bán cho Tạ Duy K và Nguyễn Văn Q, sinh năm 2001, ngụ ấp T1, xã T2, huyện T3, tỉnh Tây Ninh 01 bịch ma túy với giá 300.000 đồng thì bị Công an huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh bắt quả tang. Thu giữ trong túi quần của Nguyễn Văn Q 01 bịch ma túy, ký hiệu M1.
Tiến hành khám xét nơi ở của Nguyễn Văn P thu giữ trong phòng ngủ của P 02 đoạn ống nhựa hàn kín hai đầu bên trong chứa tinh thể rắn màu trắng, nghi là ma túy, ký hiệu M2, đây là số ma túy P dùng để bán cho người khác.
Ngoài ra, Nguyễn Văn P còn khai nhận nhiều lần bán ma túy cho người tên “P” nhưng qua xác minh chưa xác định được người tên “P” là ai.
Trong quá trình điều tra Nguyễn Văn P đã khai nhận rõ hành vi phạm tội của mình, đồng thời còn khai nhận các lần phạm tội trước đó chưa bị Cơ quan điều tra phát hiện.
* Vật chứng vụ án:
- 01 (một) đoạn ống nhựa được hàn kín hai đầu, bên trong chứa tinh thể rắn màu trắng (nghi ma túy đá) thu trong túi quần tây màu đen, phía trước bên phải của Nguyễn Văn Q, được niêm phong theo quy định, ký hiệu M1;
- 02 (hai) đoạn ống nhựa hàn kín hai đầu bên trong chứa tinh thể rắn màu trắng (nghi ma túy đá) thu trong phòng ngủ của Nguyễn Văn P, được niêm phong theo quy định, ký hiệu M2;
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen, số Imel 33520550206489 và sim số 0862113757;
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Realme, màu tím, số Imel 865394040085053 và sim số 0979293785;
- 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá; 01 (một) kéo bằng kim loại; 03 (ba) đoạn ống nhựa;
- Tiền Việt Nam 300.000 (ba trăm nghìn) đồng.
Tại Kết luận giám định số 787/KL-KTHS ngày 07/6/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh kết luận:
+ Mẫu tinh thể rắn màu trắng bên trong 01 (một) bịch ny lon được hàn kín (ký hiệu M1) gửi đến giám định là chất ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,0536 gam;
+ Mẫu tinh thể rắn màu trắng bên trong 02 (hai) đoạn ống nhựa được hàn kín hai đầu (ký hiệu M2) gửi đến giám định là chất ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,3427 gam;
Hoàn lại đối tượng sau giám định:
- Đối tượng M1 đã sử dụng hết trong công tác giám định;
- Đối tượng M2 còn lại sau giám định là 0,2164 (không phẩy hai một sáu bốn) gam được niêm phong có chữ ký của giám định viên và trợ lý giám định.
Như vậy: Ma túy của Nguyễn Văn P bán cho K và Q có khối lượng 0,0536 gam (không phẩy không năm ba sáu) gam ma túy, ma túy cất giấu dùng để bán có khối lượng 0,3427 (không phẩy ba bốn hai bảy) gam.
* Đối với Tạ Duy K, Nguyễn Văn Q, Hồ Văn Đ có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Công an huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh đã xử phạt hành chính là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
* Đối với người tên “H” bán ma túy cho Nguyễn Văn P; người tên “P” mua ma túy của Nguyễn Văn P do chưa xác định được họ tên, địa chỉ cụ thể, khi nào xác định được và có đủ căn cứ sẽ xử lý sau.
* Kết quả kê biên tài sản: Bị cáo Nguyễn Văn P không có tài sản riêng nên không tiến hành kê biên.
Bản cáo trạng số 83/CT-VKS-KSĐT ngày 22 tháng 8 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh truy tố bị cáo Nguyễn Văn P về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, c khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn P về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và đề nghị:
Căn cứ điểm b, c khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P mức án từ 08 (tám) năm đến 09 (chín) năm về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Hình phạt bổ sung: Bị cáo Nguyễn Văn P không có tài sản riêng, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
Bị cáo: Thừa nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh truy tố.
Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Vào lúc 14 giờ 30 phút ngày 03/6/2021 Công an huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh bắt quả tang Nguyễn Văn P đang bán 01 bịch ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,0536 gam với giá 300.000 đồng cho Tạ Duy K và Nguyễn Văn Q, tại ấp T1, xã T2, huyện T3, tỉnh Tây Ninh. Thu giữ trong phòng ngủ của Nguyễn Văn P 02 đoạn ống nhựa ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,3427 gam, là số ma túy để bán cho người khác.
Ngoài ra, trong tháng 5/2021, P còn bán ma túy cho nhiều người nghiện trên địa bàn huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh 04 lần, 04 bịch ma túy với tổng số tiền 1.100.000 (một triệu một trăm nghìn) đồng.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn P đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Do đó, Cáo trạng số 83/CT-VKS-KSĐT ngày 22 tháng 8 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh truy tố bị cáo Nguyễn Văn P là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Tính chất của vụ án là rất nghiêm trọng, ma túy là loại chất độc dược gây nghiện nên Nhà nước độc quyền quản lý. Nghiêm cấm việc trồng, mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, mà trực tiếp là hoạt động mua bán trái phép chất ma túy, đồng thời hành vi của bị cáo còn xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội làm ảnh hưởng đến sức khỏe và sự phát triển giống nòi của dân tộc là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác. Do đó, cần cách ly bị cáo Nguyễn Văn P ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội. Đồng thời phục vụ cho công tác đấu tranh và phòng ngừa tội phạm.
Khi quyết định hình phạt, cần xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ cho bị cáo:
Tình tiết tăng nặng: Không có.
Tình tiết giảm nhẹ:
Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Văn P thành khẩn khai báo, bị cáo đã tự thú ra những lần phạm tội trước đó, đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân của bị cáo:
Tại Bản án số 18/2007/HSST ngày 09/02/2007 Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh xử phạt Nguyễn Văn P 09 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”, đã chấp hành xong hình phạt chính, tiền phạt và án phí, đã được xóa án tích
Hình phạt bổ sung:
Xét điều kiện kinh tế và khả năng thi hành của bị cáo nên không phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Xử lý vật chứng:
- Đối tượng M2: 0,2164 gam (không phẩy hai một sáu bốn gam), loại Methamphetamine còn lại được niêm phong có chữ ký của giám định viên, trợ lý giám định; 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá; 01 (một) kéo bằng kim loại; 03 (ba) đoạn ống nhựa: Là vật chứng của vụ án bị cáo Phú sử dụng vào việc thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy;
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen, số Imel 33520550206489 và sim số 0862113757; 01 (một) điện thoại di động hiệu Realme, màu tím, số Imel 865394040085053 và sim số 0979293785: Là phương tiện của bị cáo P sử dụng vào việc thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước;
- Tiền Việt Nam 300.000 (ba trăm nghìn) đồng: Là tiền bị cáo P hưởng lợi từ việc bán trái phép chất ma túy nên cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước;
- Cần truy tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 1.100.000 (một triệu một trăm nghìn) đồng là tiền bị cáo Nguyễn Văn P thu được từ việc bán ma túy từ trong tháng 5/2021.
Trường hợp người phải thi hành án không tự nguyện thi hành án thì Chấp hành viên xử lý tiền, tài sản đó để đảm bảo thi hành án theo quy định tại đoạn 2 khoản 1 Điều 126 của Luật Thi hành án dân sự;
Trường hợp người phải thi hành án đã tự nguyện thi hành án xong thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định trả lại tiền, tài sản tạm giữ theo quy định tại đoạn 1 khoản 1 Điều 126 của Luật Thi hành án dân sự.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn P chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm b, c khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P 09 (chín) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 03/6/2021.
2. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy: Đối tượng M2: 0,2164 gam (không phẩy hai một sáu bốn gam), loại Methamphetamine còn lại được niêm phong có chữ ký của giám định viên, trợ lý giám định; 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá; 01 (một) kéo bằng kim loại; 03 (ba) đoạn ống nhựa.
- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen, số Imel 33520550206489 và sim số 0862113757; 01 (một) điện thoại di động hiệu Realme, màu tím, số Imel 865394040085053 và sim số 0979293785; tiền Việt Nam 300.000 (ba trăm nghìn) đồng.
- Truy tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước của bị cáo Nguyễn Văn P số tiền 1.100.000 (một triệu một trăm nghìn) đồng.
(Vật chứng có đặc điểm chi tiết theo biên bản bàn giao vật chứng ngày 09/9/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh).
Trường hợp người phải thi hành án không tự nguyện thi hành án thì Chấp hành viên xử lý tiền, tài sản đó để đảm bảo thi hành án theo quy định tại đoạn 2 khoản 1 Điều 126 của Luật Thi hành án dân sự;
Trường hợp người phải thi hành án đã tự nguyện thi hành án xong thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định trả lại tiền, tài sản tạm giữ theo quy định tại đoạn 1 khoản 1 Điều 126 của Luật Thi hành án dân sự.
3. Về án phí:
Căn cứ Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Nguyễn Văn P chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh để xét xử phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Vụ GĐKT.TANDTC (Vụ 1); - TAND Cấp cao tại TP.HCM; - VKSND Cấp cao tại TP.HCM; - Phòng KTNV và THA-TAND tỉnh Tây Ninh; - VKSND tỉnh Tây Ninh; - VKSND huyện Tân Biên; - Chi cục THADS huyện Tân Biên; - Cơ quan THAHS; - Phòng PV06- Công an Tây Ninh; - Nhà tạm giữ CA huyện Tân Biên; - Sở Tư pháp tỉnh Tây Ninh; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ; - Lưu tập án. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (đã ký) Mai Thị Kim Thu |