vanban.org

Bản án 77/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn Tuyên án 22/11/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lâm Anh C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lâm Anh C 08 (Tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ là ngày 24 tháng 6 năm 2021. Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Lâm Anh C. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lâm Anh C - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lâm Anh C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CAO LỘC
TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 77/2021/HS-ST
Ngày 22-11-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LỘC, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hứa Văn Nghiệp.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Hoàng Thị Thu Huyền.

Bà Trần Thị Thu Trang.

- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Đình Sắc – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hồng - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 11 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 73/2021/TLST-HS ngày 29 tháng 10 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 78/2021/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2021 đối với bị cáo:

Lâm Anh C (tên gọi khác: Không), sinh ngày 28 tháng 8 năm 1979, tại huyện C, tỉnh Lạng Sơn; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Số 2x, khu L, thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Hoa; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lâm Thành H và bà Bùi Thị M; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Chưa bị xử lý hình sự, chưa bị xử lý vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật; bị tạm giữ từ ngày 24 tháng 6 năm 2021, tạm giam từ ngày 03 tháng 7 năm 2021 tại Nhà tạm giữ Công an huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn đến nay; có mặt.

- Người làm chứng:

1. Ông Hoàng Văn K; vắng mặt.

2. Ông Triệu Văn N; vắng mặt.

3. Bà Hoàng Thị K; vắng mặt.

4. Bà Đinh Thị H; vắng mặt.

5. Ông Phương Tuấn H; vắng mặt.

6. Chị Đào Bích H; vắng mặt.

7. Bà Hà Thị V; vắng mặt.

8. Ông Hoàng Văn K; vắng mặt.

9. Ông Nguyễn Bá H; vắng mặt.

10; Ông Nông Văn T; vắng mặt.

- Người chứng kiến: Ông Âu Văn H; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lâm Anh C nghiện ma túy từ năm 2002. Từ năm 2018, Lâm Anh C đăng kí điều trị Methadone tại Cơ sở điều trị Methadone số 00x đặt tại phòng khám đa khoa khu vực Đ, xã H, huyện C, tỉnh Lạng Sơn. Đến khoảng tháng 5-2021, cơ sở điều trị Methadone chuyển đến Trạm y tế xã H, C được chuyển đến trạm y tế xã H để uống thuốc theo lịch trình hàng ngày. Quá trình điều trị Methadone, C biết một số người nghiện không điều trị Methadone nhưng có nhu cầu sử dụng để thỏa mãn cơn nghiện. Từ tháng 04-2021, C nảy sinh ý định rút bớt lượng Methadone được uống để bán lại cho những người nghiện nhằm mục đích kiếm lời. Chiến chuẩn bị 01 ống xilanh để khi được phát thuốc sẽ hút ra và đem đổ vào lọ nhựa mang theo. C đã nhiều lần rút Methadone và bán lại cho người nghiện khác. Cụ thể: Bán 04 lần cho Triệu Văn N, sinh năm 1982; trú tại thôn N, xã T, huyện C, tỉnh Lạng Sơn. Lần gần nhất vào khoảng tháng 5-2021, bán 01 lọ Methadone với giá 700.000 đồng. Bán 01 lần, 01 lọ với giá 500.000 đồng cho Hoàng Văn K, sinh năm 1978; trú tại thôn C, xã B, huyện C, tỉnh Lạng Sơn vào khoảng đầu tháng 6-2021. Ngày 24-6-2021, C đến trạm y tế xã H để uống Methadone, sau khi được phát Methadone, C đã rút bớt lượng Methadone được phát cho vào lọ nhựa rồi đi ra về. Khi đang trên đường về thì bị lực lượng công an phát hiện bắt quả tang.

Vật chứng thu giữ: 03 lọ nhựa trong suốt, bên trong các lọ đều chứa dung dịch màu hồng nghi là chất ma túy; 01 điện thoại di động hiệu Masstel màu đỏ đen có số IMEI 355636047094851 đã qua sử dụng; số tiền 890.000 đồng; 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS màu đỏ đen có Biển kiểm soát 12D1-25801 đã qua sử dụng; 01 giấy chứng nhận đăng kí xe mô tô, xe máy mang tên Lâm Anh C; 01 Giấy chứng minh nhân dân mang tên Lâm Anh C.

Tại bản Kết luận giám định số 5399/C09-TT2 ngày 02-7-2021 của Viện khoa học hình sự - Bộ Công an kết luận:

Chất lỏng trong lọ thứ nhất là dung dịch Methadone, thể tích mẫu 25ml, nồng độ Methadone 5,44 mg/ml.

Chất lỏng trong lọ thứ hai là dung dịch Methadone, thể tích mẫu 10ml, nồng độ Methadone 6,37 mg/ml.

Chất lỏng trong lọ thứ ba là dung dịch Methadone, thể tích mẫu 50ml, nồng độ Methadone 6,47 mg/ml.

Kết luận giám định số 355/KLGĐ-PC09 ngày 08-8-2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận: Toàn bộ số tiền Việt Nam gồm 890.000 đồng gửi giám định đều là tiền thật.

Tại bản Cáo trạng số 71/CT-VKS-HS ngày 27-10-2021 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo Lâm Anh C về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo thừa nhận Cáo trạng truy tố bị cáo về tội Mua bán trái phép chất ma túy là đúng tội danh, đúng với hành vi bị cáo đã thực hiện, không oan. Bị cáo thừa nhận được bán Methadone 04 lần cho Triệu Văn N, thu được tổng số tiền là 2.000.000 đồng. Bán Methadone 01 lần cho Hoàng Văn K, thu được số tiền 500.000 đồng. Bị cáo thừa nhận có sử dụng xe mô tô, điện thoại di động bị thu giữ để thực hiện hành vi bán Methadone.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lâm Anh C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Đề nghị căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lâm Anh C từ 07 năm đến 08 năm tù. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo do bị cáo không có tài sản. Về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp: Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, đề nghị tịch thu tiêu hủy: 03 lọ dung dịch Methadone. Tịch thu hóa giá sung vào ngân sách nhà nước: 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAH SIRIUS, biển kiểm soát 12D1-258.0x và kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy mang tên Lâm Anh C; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel. Trả lại cho bị cáo Lâm Anh C: 01 giấy chứng minh nhân dân; số tiền 890.000 đồng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án. Truy thu số tiền 2.500.000 đồng do bị cáo bán ma túy mà có. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận đối với đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa. Lời nói sau cùng, bị cáo thể hiện ăn năn, hối hận về việc làm của bản thân, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, diễn biến hành vi phạm tội của bị cáo, lời khai của người làm chứng, Biên bản phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Do đó, có đủ cơ sở kết luận, trong quá trình điều trị Methadone tại Cơ sở điều trị Methadone số 00x đặt tại phòng khám đa khoa khu vực Đ, xã H, huyện C, tỉnh Lạng Sơn, bị cáo đã nhiều lần rút bớt dung dịch Methadone được phát và đem bán cho những người nghiện khác. Bị cáo đã bán 04 lần cho Triệu Văn N, lần gần nhất vào khoảng tháng 5-2021; bán 01 lần, cho Hoàng Văn K vào khoảng đầu tháng 6-2021. Methadone có số thứ tự 48 thuộc danh mục II của Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15-5-2018 của Chính phủ, Nghị định ban hành các danh mục chất ma tuý và tiền chất. Hành vi của bị cáo Lâm Anh C đã phạm vào tội Mua bán trái phép chất ma túy quy định tại Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015. Do đó, có đủ căn cứ kết tội bị cáo Lâm Anh C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định của điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội thuộc trường hợp phạm tội rất nghiêm trọng, đã xâm phạm quyền độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu cho xã hội, là một trong các nguyên nhân gây phát sinh các tệ nạn xã hội và tội phạm khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có năng lực chịu trách nhiệm hình sự và có đủ năng lực nhận thức hành vi mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn bất chấp và cố ý thực hiện hiện hành vi phạm tội.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo. Do đó, bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo được coi là có nhân thân tốt, do chưa bị xử lý hình sự, chưa bị xử lý vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy rằng cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù tại cơ sở giam giữ mới đảm bảo tính nghiêm minh, răn đe đối với bị cáo cũng như phòng ngừa chung cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Theo Biên bản xác minh của cơ quan điều tra thì bị cáo không có tài sản. Do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Đối với các y bác sỹ, cán bộ của Cơ sở điều trị Methadone số 00x, Trung tâm y tế huyện C: Cơ quan điều tra đã tiến hành lấy lời khai, các cán bộ y tế đều thừa nhận do việc sắp xếp, bố trí cán bộ chưa hợp lý, còn thiếu nhân sự nên trong ca cấp phát thuốc nhiều lần chỉ có một cán bộ vì vậy không quản lý và kiểm tra được hết số bệnh nhân uống thuốc dẫn đến bệnh nhân lấy trộm thuốc ra khỏi cơ sở y tế. Căn cứ vào lời khai, các tài liệu, chứng cứ thu thập trong hồ sơ xác định các y bác sỹ, cán bộ Cơ sở điều trị Methadone số 00x, Trung tâm y tế huyện C đã vi phạm nguyên tắc về quy trình cấp phát thuốc Methadone quy định tại Khoản 1 Điều 14 Thông tư số 14/2015/TT-BYT ngày 25-6-2015 về quản lý thuốc Methadone. Cơ quan điều tra đã có văn bản đề nghị Cơ quan chủ quản có hình thức xử lý đối với đội ngũ cán bộ tại Cơ sở điều trị Methadone số 00x Trung tâm y tế huyện C. Do đó, Hội đồng xét xử không có căn cứ xử lý trong vụ án này.

Đối với Triệu Văn N và Hoàng Văn K là đối tượng mua Methadone với Lâm Anh C, đều thừa nhận được đã được mua Methadone với Chiến để sử dụng nhằm thỏa mãn cơn nghiện. Căn cứ vào hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của các đối tượng trên, Cơ quan điều tra đã chuyển tài liệu đến Công an địa phương nơi các đối tượng cư trú để lập hồ sơ đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định của pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét, xử lý trong vụ án này.

Đối với Nguyễn Bá H, Nông Xuân T, Hoàng Văn K, theo lời khai của bị cáo là những người đi uống Methadone và cùng lấy trộm Methadone: Cơ quan điều tra đã lấy lời khai và tiến hành đối chất giữa Lâm Anh C và những người trên. H, T và K đều khẳng định không được trộm Methadone. Ngoài lời khai của bị cáo không còn tài liệu nào xác minh Nguyễn Bá H, Nông Xuân T, Hoàng Văn K phạm tội nên Cơ quan điều tra không đủ căn cứ để xử lý. Do đó, Hội đồng xét xử không có cơ sở để xử lý trong vụ án này.

Đối với lời khai của bị cáo được bán Methadone cho cho người đàn ông tên H, sinh năm 1981, trú tại khu K, thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh tại khu vực trên không có người đàn ông nào theo lời khai của bị cáo. Ngoài lời khai của bị cáo không còn tài liệu nào khác để chứng minh nên Cơ quan điều tra không đủ thông tin để xác minh, làm rõ. Do đó, Hội đồng xét xử không có cơ sở để xử lý trong vụ án này.

Về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp: Đối với chất ma túy là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAH SIRIUS, biển kiểm soát 12D1-258.0x, kèm theo 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy mang tên Lâm Anh C và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel do bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu hóa giá sung vào ngân sách nhà nước. Đối với 01 giấy chứng minh nhân dân và số tiền 890.000 đồng do không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cần trả lại cho bị cáo. Tuy nhiên, cần tạm giữ số tiền 890.000 đồng để đảm bảo thi hành án. Truy thu số tiền 2.500.000 đồng do bị cáo bán ma túy mà có.

Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Ý kiến của bị cáo được Hội đồng xét xử xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, nộp, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lâm Anh C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lâm Anh C 08 (Tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ là ngày 24 tháng 6 năm 2021.

3. Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Lâm Anh C.

4. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:

Tịch thu tiêu hủy: 03 lọ dung dịch Methadone, lọ ký hiệu số 1 chứa 23ml, lọ ký hiệu số 2 chứa 8ml, lọ ký hiệu số 3 chứa 48ml được đựng trong 01 (một) phong bì niêm phong dán kín, ghi chữ "Cơ quan CSĐT - Công an huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn", có chữ ký cùng tên của những người tham gia niêm phong và các hình dấu của Viện khoa học hình sự - Bộ Công an tại các phần giáp lai.

Tịch thu hóa giá sung vào ngân sách nhà nước: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAH SIRIUS màu đỏ đen, biển kiểm soát 12D1-258.0x, số khung 3240JY219724, số máy E3X9E589727 và kèm theo 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy mang tên Lâm Anh C. 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu đỏ đen có số IMEI 355636047094851 đã qua sử dụng.

Trả lại cho bị cáo Lâm Anh C: 01 (một) Giấy chứng minh nhân dân mang tên Lâm Anh C. Số tiền 890.000 đồng (tám trăm chín mươi nghìn đồng) đựng trong 01 (một) phong bì được niêm phong dán kín nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

(Các vật chứng trên được ghi chi tiết tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 27-10-2021 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cao Lộc và Chi cục thi hành án dân sự huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn).

Truy thu số tiền 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng) do bị cáo bán ma túy mà có.

5. Về án phí: Bị cáo Lâm Anh C phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm, nộp vào ngân sách Nhà nước.

6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ