vanban.org

Bản án 77/2021/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Đình chỉ đối với yêu cầu tính lãi suất của ông Nguyễn Bá T, bà Nguyễn Thị Kim H. + Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Ngô Văn N, bà Văng Thị Kim C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 6.000.000 (Sáu triệu) đồng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Hợp đồng vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 77/2021/DS-ST
Ngày: 15-6-2021.
V/v tranh chấp “Hợp đồng vay
tài sản”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CM, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Dương.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Hồng;

2. Ông Nguyễn Văn Khanh.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Lê Hồng Duyên, Thư ký Tòa án nhân dân

huyện CM, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CM tham gia phiên tòa: Bà Đoàn

Thụy Thùy Trang – Kiểm sát viên.

Trong ngày 15 tháng 6 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện CM

xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 64/2021/TLST-DS ngày 09 tháng 3 năm 2021 về tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 249/2021/QĐXXST-DS ngày 04 tháng 5 năm 2021, Quyết định hoãn phiên tòa số 269/2020/QĐST-DS ngày 25 tháng 5 năm 2021 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn:

1.1.Ông Nguyễn Bá T, sinh năm 1961; nơi cư trú: ấp AB, xã MAHA,

huyện LV, tỉnh Đồng Tháp (có mặt).

1.2. Bà Nguyễn Thị Kim H, sinh năm 1963; nơi cư trú: ấp AB, xã MAHA,

huyện LV, tỉnh Đồng Tháp (có đơn xin vắng mặt).

2. Bị đơn:

2.1. Ông Ngô Văn N (H), sinh năm 1977; nơi cư trú: ấp MT, xã MA, huyện

CM, tỉnh An Giang (vắng mặt).

2.2 Bà Văng Thị Kim C, sinh năm 1983; nơi cư trú: ấp MT, xã MA, huyện

CM, tỉnh An Giang (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Nguyễn Bá T trình bày: Vào năm 2012, ông có vay tiền của Ngân hàng 300.000.000 đồng với lãi suất 1,2%/tháng. Do quen biết và ông Ngô Văn N đang cần vốn trồng kiệu nên ông cho ông N vay lại 120.000.000 đồng, cùng lãi suất 1,2%/tháng, đưa vốn các ngày 21/01/2012 là 20.000.000 đồng, 06/3/2012 là 100.000.000 đồng, có làm biên nhận tiền nhưng không ghi cụ thể thời hạn trả, lãi suất. Tuy nhiên, đến năm 2016, ông N có trả lãi cho ông được 40.000.000 đồng còn tiền vốn thì đến nay chưa trả. Ông có đòi nhiều lần nhưng ông N chỉ hứa mà không thực hiện. Nay ông yêu cầu ông N và bà Văng Thị Kim C trả cho vợ chồng ông số tiền vốn 120.000.000 đồng, yêu cầu tính lãi suất từ ngày 27/3/2012 đến ngày xét xử, đồng ý khấu trừ số tiền lãi đã nhận 40.000.000 đồng. Bà Nguyễn Thị Kim H thống nhất như lời trình bày của chồng, yêu cầu ông N, bà C trả nợ cho vợ chồng bà. Do bà bị bệnh đi lại rất khăn, bà yêu cầu xin được vắng mặt. Bị đơn ông Ngô Văn N, bà Văng Thị Kim C đã được Tòa án triệu tập để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng vắng mặt không r lý do. Nên Tòa án không ghi nhận ý kiến của bà về nội dung đơn khởi kiện của ông T, bà H.

- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa: * Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại Điều 195, 196, 197, 198 và Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. * Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa: Đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm, bảo đảm các trình tự, thủ tục và quyền tranh tụng tại phiên tòa. * Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:

- Đối với nguyên đơn: Ông Nguyễn Bá T, từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa đã thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 70, 71 và Điều 234 Bộ luật Tố tụng dân sự. Riêng, bà Nguyễn Thị Kim H, từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa có đơn xin vắng mặt tất cả thủ tục tố tụng là phù hợp Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Đối với bị đơn: Ông Ngô Văn N và bà Văng Thị Kim C từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa vắng mặt không có lý do là phù hợp Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự. * Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 463, 466 Bộ luật Dân sự, Điều 27, 37 Luật Hôn nhân và gia đình và Điều 217, 244 Bộ luật Tố Tụng dân sự,

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Bá T, bà Nguyễn Thị Kim

H.

- Buộc ông Ngô Văn N, bà Văng Thị Kim C trả cho ông Nguyễn Bá T, bà

Nguyễn Thị Kim H số tiền 120.000.000 đồng.

- Đình chỉ đối với yêu cầu tính lãi suất của ông Nguyễn Bá T, bà Nguyễn

Thị Kim H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại

phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Ông Nguyễn Bá T, bà Nguyễn Thị Kim H khởi kiện ông Ngô Văn

N, bà Văng Thị Kim C về tranh chấp hợp đồng vay tài sản. ông N, bà C có nơi cư trú tại ấp MT, xã MA, huyện CM, huyện CM, tỉnh An Giang. Nên Tòa án nhân dân huyện CM thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền được quy định tại các Điều 26, 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim H có đơn xin xét xử vắng mặt; bị

đơn ông Ngô Văn N, bà Văng Thị Kim C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về nội dung: Ông Nguyễn Bá T, bà Nguyễn Thị Kim H cho ông Ngô

Văn N vay số tiền 120.000.000 đồng có làm biên nhận được các bên ký xác nhận có làm biên nhận tiền nhưng không ghi cụ thể thời hạn trả, lãi suất. Do có nhu cầu lấy lái số tiền vốn nên ông T có nhiều lần yêu cầu trả lại số tiền nhưng ông N chỉ hứa mà không thực hiện đúng như th a thuận. Ông yêu cầu ông N trả lại số tiền 120.000.000 đồng và yêu cầu tính lãi từ ngày 27/3/2012 cho đến khi xét xử. Hội đồng xét xử xét thấy, hợp đồng vay tài sản giữa ông T với ông N, được xác lập trên cơ sở tự nguyện, th a thuận và được thể hiện bằng văn bản trên các tờ giao tiền ngày 21/01/2012, ngày 06/3/2012, với tổng số tiền ông N đã nhận từ ông T là 120.000.000 đồng. Quá trình thực hiện hợp đồng, ông T đã có yêu cầu ông N trả tiền lãi và vốn nhưng ông N không thực hiện, vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Mặc khác, trong quá trình giải quyết vụ án ông N đã được Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án về việc khởi kiện của ông T và triệu tập đến tòa án để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông không có ý kiến gì về việc ông T, bà H khởi kiện và vắng mặt không r lý do. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Bá T, bà Nguyễn Thị Kim H buộc ông Ngô Văn N có nghĩa vụ trả cho ông T, bà H số tiền 120.000.000 đồng là có căn cứ phù hợp với quy định tại các Điều 463, 466 Bộ luật dân sự năm 2015.

Xét yêu cầu buộc nghĩa vụ liên đới của nguyên đơn, ông T yêu cầu

ông Ngô Văn N cùng vợ bà Văng Thị Kim C có trách nhiệm liên đới trả nợ, do ông N vay tiền để mua kiệu giống về trồng triển kinh tế gia đình. Hội đồng xét xử xét thấy, ông N, bà C là vợ chồng được chính quyền địa phương xác nhận. Tuy bà C không trực tiếp giao kết hợp đồng với ông T nhưng đây là khoản nợ phát sinh trong thời kỳ hôn nhân giữa ông N, bà C đang tồn tại. Mặt khác, số tiền vay được sử dụng vào việc trồng kiệu, phát sinh lợi nhuận phục vụ nhu cầu thiết yêu của gia đình nên căn cứ Điều 27, 37 Luật Hôn nhân và gia đình, buộc bà C liên đới cùng ông N trả ông T, bà H số nợ trên. [4] Tại phiên tòa, ông T rút yêu cầu tính lãi suất đối với số tiền vay. Hồi đồng xét xử xét thấy sự thay đổi yêu cầu này là phù hợp với Điều 217, 244 nên Hội đồng xét xử cần đình chỉ đối với yêu cầu tính lãi suất của ông T, bà H. [5] Về án phí: Đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào các Điều 463, 466 Bộ luật dân sự năm 2015.

- Các Điều 26, 35, 39, 144, 147, 217, 227, 228, 244 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Điều 27, Điều 37 Luật hôn nhân và gia đình;

- Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Bá T, bà Nguyễn Thị Kim H và sử như sau: Buộc ông Ngô Văn N, bà Văng Thị Kim C có nghĩa vụ liên đới trả cho ông Nguyễn Bá T, bà Nguyễn Thị Kim H số tiền 120.000.000 (một trăm hai mươi triệu) đồng. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

- Đình chỉ đối với yêu cầu tính lãi suất của ông Nguyễn Bá T, bà Nguyễn Thị Kim H. + Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Ông Ngô Văn N, bà Văng Thị Kim C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 6.000.000 (Sáu triệu) đồng.

- Ông Nguyễn Bá T, bà Nguyễn Thị Kim H được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp 3.000.000 (Ba triệu) đồng theo biên lai thu số 0006158 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tính An Giang cấp ngày 09/3/2021.

Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền th a thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ