vanban.org

Bản án 77/2020/HSST — Hình sự

TAND tỉnh Sơn La Tuyên án 20/08/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Hạng A B phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo: Hạng A B 15 (mười lăm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 25/3/2020. Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hạng A B phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLH…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hạng A B phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 251 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 77/2020/HSST
Ngày 20 - 8 - 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cầm Văn Thanh.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Nga, bà Bùi Thị Đào.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đà Giang – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Hà Thị Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 8 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 83/2020/TLST-HS ngày 21 tháng 07 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 153/2020/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 8 năm 2020 đối với bị cáo:

Hạng A B, sinh ngày 22 tháng 6 năm 2000 tại huyện S, tỉnh S. Nơi cư trú: Bản N, xã M, huyện S, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: trồng trọt; trình độ văn hóa: 9/12; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Mông; tôn giáo: không; chức vụ (Đảng, chính quyền, đoàn thể): không; con ông Hạng A Ch, sinh năm 1970; con bà Mùa Thị C, sinh năm 1972; bị cáo có vợ là Mùa Thị M và có 02 con (con lớn sinh năm 2016, con nhỏ sinh năm 2018); tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/3/2020 đến nay có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Hạng A Ch, sinh năm 1970, nơi cư trú: Bản N, xã M, huyện S, tỉnh Sơn La, vắng mặt.

* Người bào chữa cho bị cáo: Ông Trần Minh Huấn, Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Sơn La, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 15 giờ 15 phút ngày 25/3/2020 tổ công tác Công an huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La phối hợp với các lực lượng chức năng làm nhiệm vụ tại khu vực bản Cang Cói, xã Mường Lạn, huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La thì phát hiện, bắt quả tang Hạng A B trú tại bản N, xã M, huyện S đang có hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Hạng A B.

Vật chứng thu giữ: 02 túi nilon bên trong chứa các viên nén màu hồng (nghi là hồng phiến); ngoài ra còn tạm giữ 01 xe máy nhãn hiệu DETECH, xe không có biển kiểm soát.

Ngày 26/3/2020 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La thành lập hội đồng mở niêm phong, cân tịnh xác định khối lượng, lấy mẫu trưng cầu giám định:

02 túi ni lon bên trong chứa 396 viên nén màu hồng có khối lượng 38,30 gam, trích trong mỗi túi lấy 05 viên có khối lượng 0,96 gam làm mẫu trưng cầu giám định ký hiệu B1, B2.

Kết luận giám định số 542 ngày 30/3/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: Mẫu gửi giám định ký hiệu B1, B2 đều là ma túy; loại Methamphetamine; tổng khối lượng của mẫu gửi giám định là 0.96 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ được là 38,30 gam; Loại Methamphetamine.

Quá trình điều tra bị cáo Hạng A B khai nhận.

Khoảng 09 giờ ngày 25/3/2020, Hạng A B đi xe máy từ nhà ở bản N, xã M, huyện S đến trung tâm xã M, huyện Sốp Cộp để mua đồ dùng gia đình B gặp một người đàn ông dân tộc Mông, tự giới thiệu tên Vừ A Th nhà ở bản Khua Họ, xã Huổi Một, huyện Sông Mã. Qua nói chuyện Th đặt vấn đề hỏi mua ma túy (hồng phiến) với B, B nói không có nhưng biết chỗ bán hồng phiến giá 1.500.000 đồng/1 túi. Th bảo B chở đi mua hồng phiến rồi chở Th đến khu vực bản Huổi Lầu, xã Mường Và, huyện Sốp Cộp, Th sẽ trả 2.000.000 đồng/1 túi, B nhất trí. B chở Th đi đến đầu cụm Huổi Khi, bản Nà Khi, xã Mường Lạn, Th xuống xe lấy 3.000.000 đồng đưa cho B đi mua hồng phiến. B nhận tiền rồi điều khiển xe máy đi đến khu vực biên giới Việt Nam - Lào thuộc cụm Huổi Khi, bản Nà Khi, xã Mường Lạn, huyện Sốp Cộp thì gặp và hỏi mua được của người đàn ông dân tộc Mông không quen biết 02 túi hồng phiến với giá 1.500.000 đồng/ 1 túi. Sau khi mua được hồng phiến, B điều khiển xe máy quay lại chỗ Th đang đợi và nói đã mua được 02 túi hồng phiến, Th bảo B cất giấu 02 túi hồng phiến vào trong cốp xe máy rồi chở Th đi đến khu vực bản Huổi Lầu, xã Mường Và, huyện Sốp Cộp như đã thỏa thuận. B chở Th đi đến khu vực bản Cang Cói, xã Mường Lạn, huyện Sốp Cộp thì bị tổ công tác Công an huyện Sốp Cộp kiểm tra phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng như đã nêu trên, còn Th bỏ chạy thoát.

Về nguồn gốc 396 viên Methamphetamine có khối lượng 38,30 gam thu giữ trong vụ án. Hạng A B khai mua của người đàn ông dân tộc Mông không biết tên, địa chỉ cụ thể ở khu vực biên giới Việt Nam - Lào. Do vậy Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra, xác minh.

Tại bản Cáo trạng số 78/VKS-P1 ngày 21/7/2020 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La đã truy tố bị cáo Hạng A B về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo điểm b khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

* Tại phiên tòa:

- Bị cáo Hạng A B khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng nêu.

- Đại diện Viện kiểm sát giữ quan điểm truy tố về tội danh, Điều luật áp dụng và đề nghị: Tuyên bố bị cáo Hạng A B phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Hạng A B từ 15 năm đến 16 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt ngày 25/3/2020.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

Về vật chứng của vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, xử lý theo quy định của pháp luật.

Về án phí: Bị cáo thuộc dân tộc thiểu số ở xã nghèo, điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

- Quan điểm của Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý ông Trần Minh Huấn bào chữa cho bị cáo Hạng A B: Nhất trí với tội danh và điều luật mà Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La đã truy tố. Bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng sâu, vùng xa trình độ hiểu biết pháp luật của bị cáo còn nhiều hạn chế. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mở lượng khoan hồng xử phạt bị cáo mức hình phạt thấp nhất của khung hình phạt là 15 năm tù. Ngoài ra do hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn về kinh tế, đề nghị miễn hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

- Bị cáo nhất trí với quan điểm của Luật sư thực hiện trợ giúp viên pháp lý và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên Công an huyện Sốp Cộp, Công an tỉnh Sơn La, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa cho bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội: Hạng A B là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết được chất ma túy bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng do hám lời bị cáo cố ý thực hiện hành vi mua bán trái phép 396 viên Methamphetamine có khối lượng 38,30 gam với mục đích để bán kiếm lời.

Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ sau:

- Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 15 giờ 15 phút ngày 25/3/2020 tại khu vực bản Cang Cói, xã Mường Lạn huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La, tổ công tác Công an huyện Sốp Cộp phối hợp với phòng PC 04 Công an tỉnh Sơn La, Công an xã Mường Lạn và đồn Biên Phòng xã Mường Lạn, huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La kiểm tra phát hiện và bắt quả tang Hạng A B, sinh năm 2000; Trú tại: Bản Nà Khi, xã Mường Lạn, huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La về hành vi mua bán trái phép chất ma túy trong khi làm nhiệm vụ tại Cong Cói, xã Mường Lạn huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La. Vật chứng thu giữ trong yên xe máy của B 01 (một) túi nilon màu trắng bên trong chứa 02 (hai) túi nilon (01 túi nilon màu hồng và 01 túi màu xanh) tổng cộng 02 (hai) túi có 396 (ba trăm chín mươi sáu) viên hồng phiến (nghi là ma túy tổng hợp).

Ngày 26/3/2020 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La thành lập hội đồng mở niêm phong, cân tịnh xác định khối lượng, lấy mẫu trưng cầu giám định:

02 túi ni lon bên trong chứa 396 viên nén màu hồng có khối lượng 38,30 gam, trích trong mỗi túi lấy 05 viên có khối lượng 0,96 gam làm mẫu trưng cầu giám định ký hiệu B1, B2.

Kết luận giám định số 542 ngày 30/3/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: Mẫu gửi giám định ký hiệu B1, B2 đều là ma túy; loại Methamphetamine; tổng khối lượng của mẫu gửi giám định là 0.96 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ được là 38,30 gam; Loại Methamphetamine.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và vật chứng thu giữ của bị cáo.

Từ các căn cứ như đã nêu trên, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Hạng A B phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt quy định tại Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết định khung hình phạt:

Bị cáo Hạng A B đã thực hiện hành vi mua bán trái phép 396 viên Methamphetamine có khối lượng 38,30 gam mục đích để bán kiếm lời. Hành vi trên đây của bị cáo Hạng A B phạm tội: Mua bán trái phép chất ma túy, có tình tiết định khung “Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 30 gam đến dưới 100 gam”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 3 Điều 251 Bộ luật hình sự, có khung hình phạt tù 15 năm đến 20 năm.

Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, bị cáo còn có thể bị xử phạt bổ sung (phạt tiền) theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự, song xét thấy bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, không có tài sản gì có giá trị nên cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với các bị cáo.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Hạng A B không có tình tiết tăng nặng.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi bị bắt trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xét về tính chất, mức độ, phạm tội của bị cáo trong vụ án.

Bị cáo Hạng A B đã thực hiện hành vi mua bán trái phép 396 viên Methamphetamine có khối lượng 38,30 gam có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đặc biệt lớn.

Hành vi phạm tội của bị cáo đã đi ngược lại với chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật nhà nước về đấu tranh phòng, chống ma túy; gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội ở địa phương; trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn và các tội phạm khác trong xã hội, cần phải có một mức án nghiêm khắc để giáo dục cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và răn đe phòng ngừa chung.

Về xử lý vật chứng của vụ án:

Đối với 37,34 gam Methamphetamine còn lại sau khi đã trích mẫu giám định, xét thấy là loại Nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy cùng các vỏ gói niêm phong ban đầu không còn giá trị sử dụng.

Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu DETECH, không có biển kiểm soát thu giữ khi bắt quả tang Hạng A B, xét thấy chiếc xe máy trên thuộc quyền sở hữu của ông Hạng A Ch, sinh năm 1970, HKTT: Bản N, xã M, huyện S, tỉnh Sơn La là bố của bị cáo. Việc bị cáo Hạng A B sử dụng chiếc xe máy trên làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội Hạng A Ch không biết và không tham gia. Do vậy, cần trả lại chiếc xe trên cho ông Hạng A Ch.

Trong vụ án này còn đề cập đối tượng Vừ A Th liên quan đến vụ án.

Đối với Vừ A Th trú tại bản Khua Họ, xã Huổi Một, huyện Sông Mã, Hạng A B khai là người đã đưa cho B 3.000.000 đồng đi mua hồng phiến. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh tại bản Khua Họ, xã Huổi Một, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La, không có ai tên là Vừ A Th như B đã khai. Do vậy Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra, xác minh.

Về án phí: Bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số ở các xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự;

1. Tuyên bố bị cáo Hạng A B phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo: Hạng A B 15 (mười lăm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 25/3/2020.

- Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

2. Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) Chiếc phong bì do Công an huyện sốp Cộp phát hành, còn nguyên niêm phong, một mặt có ghi dòng chữ: “Vật chứng lưu kho vụ Hạng A B, sinh năm 2000, trú tại: Cụm Huổi Khi, bản Nà Khi, xã Mường Lạn, huyện sốp Cộp, tỉnh Sơn La, về hành vi: Mua bán trái phép chất ma túy, niêm phong ngày 26.3.2020. Bên trong có 386 viên nén hình trụ tròn, màu hồng có tổng khối lượng 37,34gam được cho vào 01 túi nilon màu hồng và 01 túi nilon màu xanh ban đầu, đánh ký hiệu A1, A2 + 01 túi nilon màu trắng ban đầu + 01 phong bì niêm phong ban đầu”. (Kết luận giảm định sổ: 542/30.3.2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La thì mẫu gửi giảm định ký hiệu Bĩ, B2 đều là ma tủy: Loại: Methamphetamine). Mặt sau phong bì tại mép giáp lai được dán giấy niêm phong trên giấy niêm phong có ghi dòng chữ: Công an tỉnh Sơn La; Giấy niêm phong; số 010511 và 02 dấu tròn đỏ của Cơ quan CSĐT Công an huyện sốp Cộp, cùng chữ ký và dòng ghi rõ họ tên của các thành phân tham gia niêm phong của Hạng A B, Giàng A Vạ, Vũ Trung Hậu, Lò Văn Lun, Lò Văn Nguyên, Mai Văn Quyết, Trần Văn Bình.

- Trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Hạng A Ch: 01 (một) chiếc xe mô tô hai bánh nhãn hiệu ESPERO màu sơn đen, xe không có biển kiểm soát; số khung: RPEXCJ6PEJA312397;sốmáy: DEJQ154FMJ312397, yên xe bị bong rách, xe không có vỏ bao xích, không có chìa khóa xe, xe đã qua sử dụng. (Hai bên giao nhận không kiểm tra máy móc thiết bị bên trong của xe). Thu giữ của Hạng A B. (Phiếu trả lời xác minh phương tiện giao thông cơ giới đường bộ ngày 16.4.2020 của Đội đăng ký xe Phòng CSGT Công an huyện Sốp Cộp thì xe mô tô hai bánh nhãn hiệu ESPERO màu đen; biển kiểm soát 26F1-098.73; có số máy 154FMJ312397; số khung: J6PEJA312397; chủ xe: Hạng A P; Địa chỉ: bản H, xã M, huyện S, Sơn La).

3. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Bị cáo Hạng A B được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Hạng A B, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Cỡ chữ