- Tranh chấp gì? án hình sự — "Mai Thị H - Mua bán TPCMT - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 77/2020/HS-ST Ngày: 30 - 7 - 2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Hiền.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Viết Sự;
Ông Đoàn Trung Tuyến.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Ngoan - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Thư - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 67/2020/TLST-HS ngày 08tháng 7 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 64/2020/ QĐXXST - HS ngày 15 tháng 7 năm 2020 đối với bị cáo:
Mai Thị H; sinh ngày 05 tháng 3 năm 1973 tại huyện GT, tỉnh NĐ; nơi cư trú: Xóm 5 QT, xã GT1, huyện GT, tỉnh NĐ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con Mai Văn L và bà Lê Thị Ch (đều đã chết); chồng là Hồ Thanh B; có 02 con; tiền án: Ngày 28 - 8 - 2003, bị Tòa phúc thẩm tại Hà Nội Tòa án nhân dân tối cao xử phạt 19 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, được đặc xá kể từ ngày 31 - 8 - 2015; tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 28 - 4 - 2020 chuyển tạm giam từ ngày 30 - 4 - 2020 đến nay; “có mặt”.
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Hoài Thanh - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước; “vắng mặt”.
Người làm chứng: Anh Hoàng Văn V; “có mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 8 giờ 30 phút, ngày 28 - 4 - 2020 Hoàng Văn V đến nhà Mai Thị H mua 01 gói heroine với giá 100.000đồng, H đồng ý. V lấy 100.000 đồng đưa cho H, H nhận tiền và lấy 01 gói heroine gói trong giấy bạc màu trắng trên mặt bàn uống nước đưa cho V. V nhận gói heroine thì bị lực lượng của Phòng cảnh sát tội phạm về ma túy Công an tỉnh Nam Định bắt quả tang. Thu giữ của V 01 gói chất bột dạng cục màu trắng gói bằng túi nilon màu đen, bên trong là lớp giấy bạc màu trắng được niêm phong ký hiệu V, V khai là gói heroine vừa mua của H. Thu giữ của H 100.000 đồng, H khai là tiền vừa bán ma túy cho V mà có.
Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của H, tổ công tác còn thu giữ 02 gói giấy bạc màu trắng bên trong có chứa chất bột dạng cục màu trắng, H khai là 02 gói heroine cất giấu để bán kiếm lời được niêm phong ký hiêu H và 01 chứng minh nhân dân mang tên Mai Thị H.
Tại bản kết luận giám định số 454/GĐKTHS ngày 29 - 4 - 2020của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định đã kết luận: “Mẫu bột dạng cục màu trắng trong 02 (hai) gói bằng giấy trắng niêm phong ký hiệu V, H gửi giám định đều là ma túy. Loại ma túy: Heroine. Khối lượng mẫu V: 0,016gam; tổng khối lượng mẫu H: 0,065gam.
Tại Cáo trạng số 69/CT-VKS ngày 06 - 7 - 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định truy tố Mai Thị H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã khai tại Cơ quan điều tra, công nhận nội dung bản cáo trạng đã truy tố là đúng.
Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s và điểm t khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; tuyên bố bị cáo Mai Thị H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; xử phạt bị cáo từ 24 tháng đến 30 tháng tù; miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo; tịch thu cho tiêu hủy số ma túy hoàn trả mẫu vật sau giám định; tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 100.000 đồng thu giữ của Mai Thị H.
Người bào chữa cho bị cáo gửi bản luận cứ có nội dung: Do nhận thức giản đơn nên Mai Thị H mới thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy; bị cáo là lao động chính trong đình, chồng không có nghề nghiệp, có 02 hai con cuộc sống khó khăn nên đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất so với đề nghị của Viện Kiểm sát.
Bị cáo không bào chữa gì thêm và không tranh luận gì. Trước khi HĐXX vào nghị án, bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Giao Thủy, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì; do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh và điều luật áp dụng: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ của vụ án nên có đủ cơ sở xác định: Khoảng 08 giờ 30 phút, ngày 28 - 4 - 2020, tại nhà bị cáo Mai Thị H ở xóm 5 QT, xã GT1, huyện GT, tỉnh NĐ, H đã có hành vi bán trái phép cho Hoàng Văn V 01 gói heroine có khối lượng là 0,016 gam và cất giấu trái phép tại nhà bị cáo 02 gói heroine có khối lượng 0,065 gam nhằm mục đích bán kiếm lời. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu tới trật tự trị an tại địa phương, do đó hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy truy tố Mai Thị H theo tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ và đúng pháp luật.
[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo bị Tòa phúc thẩm tại Hà Nội Tòa án nhân dân tối cao xử phạt 19 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, được đặc xá kể từ ngày 31 - 8 -2015, chưa được xóa án tích nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải điều kiện hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao động chính trong gia đình có xác nhận của chính quyền địa phương; tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, điểm t khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[5] Về hình phạt chính: Căn cứ các quy định của pháp luật, tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: Hội đồng xét xử thấy cần xử phạt bị cáo bằng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, có như vậy mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo thành người có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời đáp ứng công tác phòng chống tội phạm nói chung.
[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, hoàn cảnh gia đình khó khăn; nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[7] Về xử lý vật chứng:
Số heroine hoàn trả mẫu vật sau giám định là vật cấm lưu hành nên cần tịch thu cho tiêu hủy.
Số tiền 100.000 đồng thu giữ của Mai Thị H là tiền do H bán ma túy cho V mà có nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
Đối với 01 chứng minh nhân dân mang tên Mai Thị H, là giấy tờ hợp pháp của bị cáo, không liên quan tới hành vi phạm tội nên cơ quan điều tra đã trả lại cho gia đình H là phù hợp.
[8] Về nguồn gốc số heroin thu giữ của Mai Thị H, H khai nhận mua của của một người đàn ông không rõ tên, tuổi, địa chỉ ở khu vực ngã ba Hoành Nha 03 gói heroine với giá 200.000 đồng. Nhận thấy, ngoài lời khai của bị cáo không có tài liệu, chứng cứ nào khác nên không có căn cứ để xử lý đối tượng đã bán heroine cho H theo quy định của pháp luật.
[9] Hoàng Văn Vi có hành vi mua 0,016 gam heroine của Mai Thị H về để sử dụng cho bản thân, xét thấy hành vi của V chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự nên cơ quan điều tra đã xử lý bằng biện pháp hành chính là phù hợp.
[10] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s, điểm t khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; tuyên bố bị cáo Mai Thị H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; xử phạt bị cáo Mai Thị H 02 năm tù; thời hạn tù tính từ ngày 28 tháng 4 năm 2020.
2. Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 100.000 đồng thu giữ của Mai Thị H; tịch thu cho tiêu hủy 01 phong bì hoàn trả mẫu vật sau giám định số 454/GĐKTHS ngày 29 - 4 - 2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định (theo biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 07 - 7 - 2020 tại Chi cục thi Hnh án dân sự huyện Giao Thủy).
3. Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; bị cáo Mai Thị H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; bị cáo Mai Thị H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Nam Định; - VKSND huyện Giao Thủy; - CQĐT Công an huyện Giao Thủy; - Cơ quan THAHS Công an huyện Giao Thủy; - Chi cục THADS huyện Giao Thủy; - Trại tạm giam Công an tỉnh Nam Định; - UBND xã GT1; - Bị cáo; - Lưu VT; hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Thu Hiền |