- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Ngân hàng BV - Tr1"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần B đối với bà Võ Thị Thùy Tr1.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ L | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 77/2020/DS-ST Ngày: 04 - 9 - 2020 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ L, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thùy Giang
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Huỳnh Thị Thúy Hoa
2. Bà Nguyễn Thị Xuân Loan
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Ngọc Ký - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố L, tỉnh An Giang
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố L, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Không tham gia.
Ngày 04 tháng 9 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố L, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 99/2020/TLST-DS ngày 11 tháng 5 năm 2020 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 235/2020/QĐXXST-DS ngày 22 tháng 7 năm 2020 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần B (Ngân hàng B)
Trụ sở: Tòa nhà HM Town số 412 đường N, Phường V, Quận I, thành phố Hồ Chí Minh
Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Quang Tr, chức vụ: Tổng Giám đốc
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Phúc H, chức vụ: Phó Giám đốc Trung tâm Quản lý và Thu hồi nợ (Quyết định số 363/2019/UQ-PCTT ngày 18 tháng 11 năm 2019 của Tổng giám đốc Ngân hàng B)
Người đại diện theo ủy quyền lại: Ông Trần H1 (Theo Giấy ủy quyền số 13/2020/UQ-XLN ngày 10 tháng 02 năm 2020)
Địa chỉ làm việc: Ngân hàng thương mại B – Chi nhánh An Giang; Số 183 – 185 đường Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
- Bị đơn: Bà Võ Thị Thùy Tr1, sinh năm 1984
Cư trú: Số 820A/12, khóm K2, phường M2, thành phố L, tỉnh An Giang
Tại phiên tòa, ông Trần H1 có mặt, bà Võ Thị Thùy Tr1 vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình làm việc, hòa giải, giải quyết vụ án, Ngân hàng B do ông Trần H1 đại diện theo ủy quyền trình bày:
Ngày 09 tháng 8 năm 2018, Ngân hàng B – Chi nhánh An Giang có ký Hợp đồng tín dụng số 0159/03218/HDTD.TC với bà Võ Thị Thùy Tr1. Theo đó, Ngân hàng B cho bà Tr1 vay với số tiền 200.000.000 đồng; mục đích vay: bổ sung vốn phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh; thời hạn vay: 48 tháng kể từ ngày 28 tháng 8 năm 2019; lãi suất cho vay: 22%/năm; phương thức trả nợ: Vào ngày 05 định kỳ 01 tháng/lần với số tiền 4.167.000 đồng; kỳ trả nợ gốc đầu tiên là vào ngày 05 tháng 10 năm 2018.
Trong quá trình vay vốn, bà Tr1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo các nội dung thỏa thuận mà hai bên ký kết. Ngân hàng B đã nhiều lần làm việc, đôn đốc, yêu cầu bà Tr1 thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ. Tuy nhiên, đến nay bà Tr1 vẫn không thực hiện nghĩa vụ thanh toán. Tạm tính đến ngày 03 tháng 02 năm 2020, bà Tr1 còn nợ Ngân hàng B 152.043.679 đồng; trong đó: Nợ gốc là 141.662.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 9.929.628 đồng, lãi quá hạn là 357.563 đồng, phạt chậm trả lãi là 94.488 đồng.
Ngân hàng B khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bà Võ Thị Thùy Tr1 phải thanh toán ngay cho Ngân hàng B tổng số tiền tạm tính đến ngày 03 tháng 02 năm 2020 là 152.043.679 đồng; Buộc bà Tr1 phải chịu toàn bộ số tiền lãi, phí/phạt phát sinh kể từ ngày 04 tháng 02 năm 2020 theo mức lãi suất được quy định trong Hợp đồng tín dụng số 0159/03218/HDTD.TC ngày 09 tháng 8 năm 2018 cho đến khi trả hết nợ.
Bị đơn bà Võ Thị Thùy Tr1: Vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án, không cung cấp tài liệu, chứng cứ và ý kiến cho Tòa án.
Tòa án đã tiến hành tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và tiến hành hòa giải nhưng bị đơn vắng mặt không lý do, nên vụ án không tiến hành hòa giải được. Do đó, Tòa án mở phiên tòa sơ thẩm xét xử công khai vụ án để Hội đồng xét xử xem xét, quyết định.
Tại phiên tòa:
- Ngân hàng B do ông Trần H1 đại diện trình bày: Ngân hàng rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền phạt chậm trả lãi; chỉ yêu cầu bà Tr1 phải thanh toán cho Ngân hàng B số tiền nợ gốc, lãi tổng cộng là 167.933.783 đồng (tạm tính đến ngày 04 tháng 9 năm 2020) cụ thể: Nợ gốc là 136.662.000 đồng; nợ lãi trong hạn là 25.977.625 đồng; lãi quá hạn là 5.294.158 đồng. Rút yêu cầu đối với số tiền phạt chậm trả lãi là 1.098.523 đồng.
Yêu cầu tiếp tục tính lãi, phí/phạt phát sinh cho đến khi trả hết nợ theo các Hợp đồng tín dụng đã ký kết.
- Bà Tr1 vắng mặt, không cung cấp tài liệu, chứng cứ và ý kiến về việc giải quyết vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra, xem xét tại phiên tòa, kết quả việc tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của các đương sự, các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả tiền vốn, lãi theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết. Bị đơn vay tiền với mục đích sử dụng phục vụ hoạt động kinh doanh nhưng không có đăng ký kinh doanh; nên Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án dân sự về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Mặt khác, bị đơn có địa chỉ cư trú tại thành phố L, tỉnh An Giang, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố L.
[2] Về thủ tục tố tụng: Bà Võ Thị Thùy Tr1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không lý do; nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà Tr1 theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung tranh chấp:
Giữa Ngân hàng B - Chi nhánh An Giang và bà Võ Thị Thùy Tr1 có xác lập Hợp đồng tín dụng số 0159/03218/HDTD.TC ngày 09 tháng 8 năm 2018 để bà Tr1 vay vốn từ Ngân hàng B - Chi nhánh An Giang và không có thế chấp tài sản để bảo đảm nghĩa vụ. Sau khi giải ngân theo Giấy nhận nợ ngày 28 tháng 8 năm 2018, bà Tr1 đã thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ được một thời gian thì ngừng thanh toán theo các nội dung thỏa thuận. Như vậy, bà Tr1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng tín dụng đã ký kết, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng B nên yêu cầu trả số tiền vốn, lãi của Ngân hàng B là có căn cứ.
Mặt khác, quá trình giải quyết, xét xử vụ án, bà Tr1 không thể hiện ý kiến bằng văn bản, không giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ chứng minh đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là cố tình trốn tránh nghĩa vụ trả nợ.
Từ những phân tích và nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử nhận thấy có đủ cơ sở để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng B: Buộc bà Tr1 có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng B số tiền tổng cộng vốn, lãi là 167.933.783 đồng (tạm tính đến ngày 04 tháng 9 năm 2020) cụ thể: Nợ gốc là 136.662.000 đồng; nợ lãi trong hạn là 25.977.625 đồng; lãi quá hạn là 5.294.158 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, bà Tr1 còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số 0159/03218/HDTD.TC ngày 09 tháng 8 năm 2018 cho đến khi thanh toán xong các khoản nợ.
Về việc Ngân hàng B rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền phạt chậm trả lãi; xét thấy đây là sự tự nguyện của nguyên đơn và phù hợp với quy định của pháp luật; nên Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu này.
Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện được chấp nhận nên Ngân hàng B không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm và được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp. Bà Tr1 phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 227, khoản 2 Điều 244, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Các Điều 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015
- Khoản 14 và khoản 16 Điều 4, Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức Tín dụng năm 2010.
- Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần B đối với bà Võ Thị Thùy Tr1.
Buộc bà Võ Thị Thùy Tr1 có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần B (Do Ngân hàng thương mại cổ phần B – Chi nhánh An Giang đại diện) nhận số tiền tổng cộng vốn, lãi (tạm tính đến ngày 04 tháng 9 năm 2020) là 167.933.783 đồng (một trăm sáu mươi bảy triệu chín trăm ba mươi ba nghìn bảy trăm tám mươi ba đồng); trong đó: Nợ gốc là 136.662.000 đồng; nợ lãi trong hạn là 25.977.625 đồng; lãi quá hạn là 5.294.158 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 04 tháng 9 năm 2020) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thanh toán theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số 0159/03218/HĐTD.TC ngày 09 tháng 8 năm 2018. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
2. Đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần B đối với bà Võ Thị Thùy Tr1 về số tiền phạt chậm trả lãi.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ngân hàng thương mại cổ phần B (Do Ngân hàng thương mại cổ phần B – Chi nhánh An Giang đại diện) được nhận lại 3.800.000 đồng (ba triệu tám trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0002959 ngày 11 tháng 5 năm 2020 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố L.
Bà Võ Thị Thùy Tr1 phải chịu 8.396.689 đồng (tám triệu ba trăm chín mươi sáu nghìn sáu trăm tám mươi chín đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo:
Các đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự .
| Nơi nhận: - TAND t. An Giang (1); - VKSND tp. L (2); - Chi cục THADS tp. L (1); - Các đương sự (2); - Văn phòng (4); - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thùy Giang |