- Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Bà Vi Thị Ng khởi kiện ộng Hoàng Văn C"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của b đơn ôn Hoàn Văn C; giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 05/2020/DS-ST n à 11 thán 8 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạn Sơn, cụ thể:
- Căn cứ chính? Luật Đất đainăm; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 77/2020/DS-PT Ngày 30 - 12 - 2020 V/v tranh chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất, yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lộc Sơn Thái
Các Thẩm phán: Ông Cao Đức Chiến
Ông Vi Đức Trí
- Thư ký phiên tòa: Bà N u n Th hư n - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lạn Sơn.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Ông Lộc Văn Đôn - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 12 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lạn Sơn xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 53/2020/TLPT-DS, ngày 19 tháng 10 năm 2020 về việc tranh chấp quyền sử dụn đất, tài sản gắn liền với đất, yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 05/2020/DS-ST ngày 11 thán 8 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạn Sơn b kháng cáo.
Theo Quyết đ nh đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 91/2020/QĐ-PT ngày 04 tháng 12 năm 2020, iữa các đươn sự:
- Nguyên đơn: Bà Vi Th Ng; cư trú tại: Thôn T, xã N, huyện L, tỉnh Lạng Sơn; có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Bà Bạch Ánh T
- Luật sư thực hiện tr giúp pháp lý của Trung tâm T tỉnh L; có mặt.
- Bị đơn: Ông Hoàn Văn C; cư trú tại: Thôn T, xã N, huyện L, tỉnh Lạng Sơn; có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Lâm Xuân T, Luật sư thực hiện tr giúp pháp lý của Trung tâm T tỉnh L; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Hoàn Văn M; có mặt;
2. Ông Hoàn Văn Q; vắng mặt;
3. Ông Hoàn Văn Đ; vắng mặt;
4. Ông Hoàn Văn T; vắng mặt;
Đều cư trú tại: Thôn T, xã N, huyện L, tỉnh Lạn Sơn.
5. Bà Hoàng Th M; cư trú tại: Thôn K, xã N, huyện L, tỉnh Lạn Sơn; vắng mặt;
6. Bà Hoàng Th H; cư trú tại: Thôn B, xã H, huyện L, tỉnh Lạn Sơn; vắng mặt;
7. Bà Lành Th M; cư trú tại: Thôn , xã Đ, hu ện L, tỉnh Lạn Sơn; vắng mặt;
Người đại diện theo ủy quyền của ông Hoàn Văn Q, bà Hoàng Th M, bà Hoàng Th H, bà Lành Th M, ông Hoàn Văn M, ông Hoàn Văn Đ, ông Hoàn Văn T là bà Vi Th Ng; cư trú tại: Thôn T, xã N, huyện L, tỉnh Lạn Sơn (Văn bản ủy quyền ngày 02-6-2020); có mặt.
8. Bà Hoàng Th Ng; cư trú tại: Thôn H, xã Đ, huyện G, tỉnh Bắc Ninh; vắng mặt;
9. Ông Hoàn Văn I; vắng mặt;
10. Ông Lành Văn T; vắng mặt;
11. Ông Lành Văn K; vắng mặt;
Đều cư trú tại: Thôn T, xã N, huyện L, tỉnh Lạn Sơn.
12. Bà Hoàng Th V; cư trú tại: Thôn Bản Quyến, xã Tú Đoạn, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạn Sơn; vắng mặt;
13. Bà Vy Th X; có mặt.
14. Ông Hoàn Văn Th; vắng mặt;
15. Bà Hoàng Th L; vắng mặt;
16. Bà Hoàng Th Q; vắng mặt;
17. Ông Hoàn Văn Q; vắng mặt;
Đều cư trútại: Thôn T,xã N,huyện L, tỉnh Lạn Sơn.
18. Bà Hoàng Th W; cư trú tại B, xã N, huyện L, tỉnh Lạn Sơn; vắng mặt;
N ười đại diện theo ủy quyền của bà Vy Th X, ông Hoàn Văn Th, bà Hoàng Th L, bà Hoàng Th Q, ông Hoàn Văn Q, bà Hoàng Th W là ông Hoàn Văn C; cư trú tại: Thôn T, xã N, hu ện L, tỉnh Lạn Sơn (Văn bản ủy quyền ngày 05 và ngày 08-6-2020); có mặt.
- Người kháng cáo: Ông Hoàn Văn C là b đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và Bản án dân sự sơ thẩm, nội dung vụ án đư c tóm tắt như sau:
Ngày 15-6-2020, Tòa án đã tiến hành xem xét, thẩm đinh tại chỗ xác đ nh đư c như sau: Bà Vi Th Ng và ôn Hoàn Văn C tranh chấp diện tích đất tại 02 thửa, gồm thửa đất số 22, tờ bản đồ số 55, diện tích 18m2 (thuộc đất ở tại nông thôn) và thửa đất số 112, tờ bản đồ số 55, diện tích 02m2 (thuộc đất trồng cây lâu năm), thuộc bản đồ đ a chính xã N, huyện L, tỉnh Lạn Sơn, có đ a danh đ a N, Thôn T, xã N, huyện L, tỉnh Lạn Sơn. Các thửa đất trên đã đư c UBND huyện L, tỉnh Lạn Sơn cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụn đất cho hộ ông Hoàng Văn M và bà Vi Th Ng vào các năm 2011 và 2013. Về tài sản trên đất gồm có: 01 câ Nhãn đường kính gốc trên 30cm, đã b chặt 1 số cành và chặt vào vào gốc, vẫn sống; 02 câ Nhãn đường kính gốc trên 5-10cm (đã b chặt chỉ còn gốc); 01 câ Bưởi đường kính gốc =9cm (đã b chặt chỉ còn gốc); 02 câ Bưởi đường kính gốc dưới 2cm; 01 cây Mác Mật đường kính gốc =1,5cm (đã b chặt chỉ còn gốc; 01 câ Quýt đường kính gốc = 2cm (đã b chặt chỉ còn gốc); 01 cây Chanh đường kính gốc = 3cm (đã b chặt chỉ còn gốc); 01 câ Mít đường kính gốc = 1cm (đã b chặt chỉ còn gốc). Cây Quýt, cây Chanh và cây Mít nằm ngoài diện tích đất tranh chấp, nhưn câ Quýt, câ Chanh nằm trong thửa đất số 22 và cây Mít nằm trong thửa đất số 112 đã đư c cấp giấy chứng nhận quyền sử dụn đất cho hộ ia đình n u ên đơn bà Vi Th Ng). Tổng giá tr đất và tài sản gắn liền với đất là 21.880.000 đồng.
Theo n u ên đơn trình bà bà Vi Th Ng là v ông Hoàn Văn M. Bố mẹ chồng của bà là ôn Hoàn Văn C (đã chết năm 1984) và bà Hứa Th P (đã chết năm 1993). Năm 1986 bà Hứa Th P phân chia cho v chồng bà một khu đất tại đ a danh N, Thôn T, xã N, huyện L, tỉnh Lạn Sơn. Sau khi đư c mẹ chồng phân chia thì ia đình bà quản lý, sử dụng ổn đ nh, không xảy ra tranh chấp với ai và anh em tron ia đình khôn ai có ý kiến gì. Năm 2002 v chồng bà mua thêm với em trai Hoàn Văn Q 02 mảnh đất nữa sát với khu đất bố mẹ chồng cho. Sau khi Nhà nước đo đạc bản đồ đ a chính thì bà xác đ nh các thửa đất nói trên gồm các thửa đất số 112 và 22, tờ bản đồ số 55 thuộc thôn T, xã N, ia đình bà đã đư c Ủy ban nhân dân huyện L cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụn đất. Năm 2019 ông Hoàn Văn C là cháu họ và cũn có diện tích đất liền kề với gia đình bà đã có hành vi chặt 02 cây nhãn to, 02 cây nhãn nhỏ, 02 cây móc mật, 01 câ sưa, 01 cây chanh của ia đình bà nên bà đã ọi chính quyền đ a phươn đến lập biên bản và xảy ra tranh chấp giữa hai bên ia đình. Do đó, bà Vi Th Ng đã khởi kiện tại Tòa án, theo đơn khởi kiện đề ngày 05-5-2020 yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai với diện tích 29m2 thuộc một phần thửa đất số 22, tờ bản đồ số 55 Bản đồ đ a chính xã N và yêu cầu bồi thường số cây ông Hoàn Văn C đã chặt là 4.000.000 đồng. Tại cấp sơ thẩm, sau khi đi xem xét thẩm đ nh tại chỗ xác đ nh diện tích đất tranh chấp thuộc thửa 22, tờ bản đồ 55 là 18m2 và thửa 112, tờ bản đồ 55 là 02m2, ngày 16-7-2020 bà Vi Th Ng chỉ yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai đối với tổng diện tích đất tranh chấp là 20m2 và yêu cầu ông Hoàn Văn C phải bồi thường thiệt hại các cây trên, theo Biên bản đ nh giá của Tòa án với tổng số tiền bồi thườn là 3.696.000 đồng. Tại phiên tòa sơ thẩm bà Vi Th Ng đã rút một phần yêu cầu bồi thường thiệt hại, không yêu cầu Tòa án giải quyết về việc bồi thường thiệt hại 01 câ bưởi đường kính gốc 09 cm, 01 câ nhãn to đườn kính trên 30 cm và 01 câ quýt đường kính gốc 2cm, bà Vi Th Ng yêu cầu ông Hoàn Văn C phải có trách nhiệm bồi thường với tổng số tiền là 1.306.000 đồng.
B đơn ôn Hoàn Văn C cho rằng 20m2 đất mà phía n u ên đơn xác đ nh tại buổi xem xét, thẩm đ nh tại chỗ ngày 15-6-2020 là đất của ông cha b đơn để lại, đâ là diện tích đất ở thuộc thửa đất số 1 tờ bản đồ số 55 Bản đồ đ a chính xã N hiện ia đình ôn Hoàn Văn C đã đư c cấp GCNQSĐ vào năm 2013. Diện tích đất của ia đình ôn với đất ia đình bà Vi Th Ng là liền kề khôn n ăn cách bằn ì, nhưn có khoảng đất trống khoảng 4 đến 5m (khoảng đất trống nà chưa vào phần Giấy chứng nhận của nhà ai). Lý do có khoản đất trốn nà do đâ là mô đất mà nhà bà Vi Th Ng dùn để đi lại. Bà Vi Th Ng lấn chiếm đất thì lấn luôn cả mô đất (chưa cấp Giấy cho ai) và lấn luôn cả sang đất nhà ông. Diện tích đất bà Vi Th Ng lấn này không nằm tron đất nhà ông, khôn rơi vào thửa đất số 11, tờ bản đồ số 55, bản đồ đ a chính xã N mà ôn đã đư c cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụn đất. Cũn không phải đất của bà Vi Th Ng mà là đất hoang, không thuộc quyền quản lý của ai cả. Bà Vi Th Ng yêu cầu quản lý, sử dụng diện tích đất tranh chấp ông không nhất trí, đối với yêu cầu bồi thường thì ông có thừa nhận đư c chặt câ nhưn khôn đồng ý bồi thường.
Nhữn n ười có quyền l i và n hĩa vụ liên quan phía n u ên đơn ôn Hoàn Văn M, Hoàn Văn Q, Hoàn Văn Đ, Hoàn Văn T, bà Hoàng Th M, Hoàng Th H, Lành Th M, Hoàng Th Ng, ông Hoàn Văn I, Lành Văn T, Lành Văn K, bà Hoàng Th V đều nhất trí với ý kiến của bà Vi Th Ng.
Nhữn n ười có quyền l i và n hĩa vụ liên quan phía b đơn bà Vy Th X, ông Hoàn Văn Th, bà Hoàng Th L, bà Hoàng Th Q, ông Hoàn Văn Q, bà Hoàng Th W đều nhất trí với ý kiến trình bày của ông Hoàn Văn C.
Với nội dun như trên, tại Bản án dân sự sơ thẩm số 05/2020/DS-ST ngày 11-8-2020 của Tòa án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạn Sơn đã qu ết đ nh:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của n u ên đơn của bà Vi Th Ng, cụ thể hộ ia đình bà Vi Th Ng đư c quản lý, sử dụng diện tích 18m2 thuộc một phần thửa đất số 22, đất thổ cư và diện tích 2,0m2 đất thuộc một phần thửa đất số 112, đất trồn câ lâu năm, đều thuộc tờ bản đồ số 55, bản đồ đ a chính xã N, huyện L, tỉnh Lạn Sơn và đư c quyền sở hữu, quản lý, sử dụng các tài sản trên đất tranh chấp gồm các cây còn sốn là 02 câ Bưởi, 01 cây nhãn to và các gốc câ đã b chặt bao gồm 02 gốc cây nhãn nhỏ, 01 gốc cây mắc mật, 01 gốc cây bưởi.
2. Buộc b đơn ôn Hoàn Văn C và n ười có quyền l i n hĩa vụ liên quan về phía b đơn chấm dứt hành vi tranh chấp quyền sử dụn đất đối với diện tích 18m2 thuộc một phần thửa đất số 22 và diện tích 2,0m2 thuộc một phần thửa đất 112, tờ bản đồ 55, bản đồ đ a chính xã N, huyện L, tỉnh Lạn Sơn và các tài sản có trên đất.
3. Về bồi thường thiệt hại về tài sản: Buộc ông Hoàn Văn C phải bồi thường cho bà Vi Th Ng các cây ông Hoàn Văn C đã chặt bao gồm: 02 cây Nhãn nhỏ, 01 cây Mắc Mật, 01 cây Mít, 01 cây Chanh với tổng số tiền 1.306.000 đồng (một triệu ba trăm ba linh sáu n hìn đồng).
4. Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại 01 câ Bưởi, 01 cây Quýt và 01 cây Nhãn to do bà Vi Th Ng rút yêu cầu bồi thường.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về chi phí tố tụn , n hĩa vụ chậm trả, án phí và quyền kháng cáo, về n hĩa vụ chậm trả và quyền yêu cầu thi hành án của các đươn sự.
Trong thời hạn luật đ nh, b đơn ôn Hoàn Văn C khán cáo đối với Bản án sơ thẩm số 05/2020/DS-ST n à 11 thán 8 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạn Sơn; yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xác đ nh lại ranh iới đất liền kề từ câ nhãn to đến phần tiếp iáp đườn cái thuộc về ia đình ông Hoàn Văn C; xem xét khoản tiền chi phí thẩm đ nh tại chỗ và đ nh iá tài sản mà Bản án sơ thẩm đã qu ết đ nh.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
N ười kháng cáo b đơn ông Hoàn Văn C vẫn giữ nguyên nội dun đã kháng cáo.
N ười bảo vệ quyền và l i ích h p pháp của b đơn trình bày cấp sơ thẩm xác đ nh quan hệ pháp luật của vụ án khôn đún , cần phải xác đ nh là tranh chấp ranh giới đất để phù h p với yêu cầu của đươn sự, tuy nhiên phía ông Hoàn Văn C không kháng cáo nội dung này mà chỉ kháng cáo yêu cầu chia diện tích đất tranh chấp thành hai phần bằn nhau, cho bên n u ên đơn và b đơn mỗi n ười một phần bằn nhau. Đề ngh Hội đồng xét xử xem xét xử sửa Bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Lộc Bình theo hướng chấp nhận kháng cáo của ông Hoàn Văn C.
Bà Vi Th Ng không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của b đơn và đề ngh giữ nguyên quyết đ nh của Bản án dân sự sơ thẩm.
N ười bảo vệ quyền và l i ích h p pháp của n u ên đơn trình bà : Tại phiên tòa n à hôm na n ười kháng cáo không cung cấp đư c tài liệu, chứng cứ cho yêu cầu kháng cáo của mình. Đề ngh Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của b đơn và iữa nguyên Bản án sơ thẩm, công nhận quyền quản lý sử dụng 20m2 đất theo giấy chứng nhận mà bà Vi Th Ng đã đư c cấp, các câ trên đất theo biên bản thẩm đ nh bà yêu cầu đư c quản lý, sử dụng. Yêu cầu ông Hoàn Văn C bồi thường thiệt hại với tổng số tiền là 1.306.000 đồng. Chi phí xem xét thẩm đ nh, đo đạc và đ nh giá buộc ông Hoàn Văn C phải ch u. Án phí giải quyết theo qu đ nh của pháp luật.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Lạn Sơn phát biểu ý kiến về việc chấp hành pháp luật tố tụng và giải quyết vụ án cụ thể như sau:
Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đươn sự có mặt chấp hành đún qu đ nh của Bộ luật Tố tụng dân sự; nhữn n ười tham gia tố tụng có mặt tại phiên tòa đã đư c thực hiện đầy đủ các quyền và n hĩa vụ của mình theo qu đ nh của pháp luật tố tụng dân sự; đươn sự vắng mặt nhưn đã có đơn xin xét xử vắng mặt và n ười làm chứng đã thực hiện quyền và n hĩa vụ theo qu đ nh của pháp luật tố tụng dân sự.
Về nội dung kháng cáo: Tại cấp phúc thẩm ông Hoàn Văn C cho rằng diện tích đất tranh chấp là đất hoang, không thuộc quyền quản lý, sử dụng, không nằm trong Giấy chứng nhận quyền sủ dụn đất của n u ên đơn đư c cấp, nhưn n oài lời trình bày ông Hoàn Văn C khôn đưa ra đư c tài liệu, chứng cứ nào chứng minh. Do vậy kháng cáo của ông Hoàn Văn C yêu cầu xác đ nh lại ranh giới đất liền kề từ câ nhãn to đến phần tiếp iáp đường cái thuộc về ia đình ôn Hoàng Văn C là khôn có căn cứ, cơ sở chấp nhận. Đối với yêu cầu kháng cáo về khoản tiền chi phí thẩm đ nh tại chỗ do các bên đươn sự không có thỏa thuận nên Tòa sơ thẩm buộc b đơn ôn Hoàn Văn C phải ch u toàn bộ chi phí tố tụn là đún qu đ nh của pháp luật. Đề ngh Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự không chấp nhận kháng cáo của ông Hoàn Văn C, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:[
[1] Về thủ tục tố tụng: Những n ười có quyền l i, n hĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa đã đư c Tòa án triệu tập h p lệ nhưn vắng mặt tại phiên tòa, tuy nhiên họ đều có văn bản ủy quyền và n ười đư c ủy quyền có mặt tại phiên tòa. Theo qu đ nh tại Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đươn sự theo qu đ nh.
[2] Về quan hệ pháp luật: N u ên đơn êu cầu đư c quyền quản lý, sử dụng diện tích đất tranh chấp và đư c quyền sở hữu tài sản trên đất; yêu cầu b đơn chấm dứt hành vi tranh chấp đối với diện tích đất tranh chấp và yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản (cây trồng). Nên quan hệ pháp luật trong vụ án này đư c Hội đồng xét xử xác đ nh là Tranh chấp quyền sử dụn đất, tài sản gắn liền với đất, yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản.
[3] Về diện tích đất tranh chấp: Tại buổi xem xét, thẩm đ nh tại chỗ ngày 15-6-2020 do Tòa án nhân dân huyện Lộc Bình thực hiện với sự tham gia và chứng kiến của các bên liên quan, chính quyền đ a phươn cùn các bên đươn sự đại diện phía n u ên đơn bà Vi Th Ng và b đơn ôn Hoàn Văn C, các bên đều nhất trí để Hội đồng thẩm đ nh, đơn v đo đạc tiến hành làm việc mô tả rõ hiện trườn , xác đ nh mốc giới, các cạnh tiếp giáp của diện tích đất tranh chấp tại thực đ a. Theo kết quả xem xét, thẩm đ nh và kết quả trích đo đ a chính của Công ty Cổ phần trắc đ a bản đồ và môi trường S chi nhánh Lạn Sơn thực hiện, xác đ nh diện tích đất tranh chấp gồm có 18m2 đất ở tại nông thôn thuộc một phần thửa số 22 và diện tích đất 2,0m2 đất trồn câ lâu năm thuộc một phần thửa 112, đều thuộc tờ bản đồ 55, bản đồ đ a chính xã N, huyện L, tỉnh Lạng Sơn đã đư c Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Lạn Sơn cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụn đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số vào sổ cấp GCN: CH02181 và số vào sổ cấp GCN: CH02297, cấp cùng ngày 16-4-2013, cấp cho ia đình n u ên đơn là hộ ông Hoàn Văn M và bà Vi Th Ng.
[4] Trên diện tích đất tranh chấp có gồm 01 câ nhãn to đường kính gốc trên 30cm; 02 câ bưởi đường kính gốc dưới 2cm và các gốc câ đã b chặt gồm 02 gốc cây nhãn nhỏ, 01 gốc cây mắc mật, 01 gốc cây bưởi, theo n u ên đơn toàn bộ số cây trên do bà Vi Th Ng trồng để làm hàng rào bằng cây tại phần diện tích đất giáp danh với đất của ia đình ôn Hoàn Văn C, khi bà trồng cây thì các thành viên tron ia đình và bản thân ông Hoàn Văn C không có ý kiến gì. Thực tế thấy rằng, số cây nói trên đều đư c trồng theo hàng lối men theo diện tích đất mà bà Vi Th Ng xác đ nh là danh giới giữa đất của ia đình bà và đất của ôn Hoàn Văn C. Mặt khác, ông Hoàn Văn C cũn thừa nhận bản thân ôn và ia đình nhà ôn khôn ai đư c trồng các cây trên diện tích đất tranh chấp và do cây trên diện tích đất của ia đình ôn nên ôn đã chặt bỏ để làm lối đi của gia đình.
[5] Luật Đất đai qu đ nh: N ười sử dụn đất đư c cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụn đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, đư c Nhà nước bảo hộ khi b n ười khác xâm phạm đến quyền, l i ích h p pháp về đất đai của mình. Giấy chứng nhận quyền sử dụn đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là chứn thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sử dụn đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất h p pháp của n ười có quyền sử dụn đất, quyền tài sản khác gắn liền với đất.
[6] Vì nhữn phân tích trên có đủ căn cứ xác đ nh: Gia đình bà Vi Th Ng có quá trình quản lý ổn đ nh liên tục và trồn câ ăn quả trên diện tích 18m2 đất ở tại nông thôn thuộc một phần thửa số 22 và diện tích đất 2,0m2 đất trồng cây lâu năm thuộc một phần thửa 112, tờ bản đồ 55, bản đồ đ a chính xã N, huyện L. Việc Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Vi Th Ng là có căn cứ.
[7] Xét kháng cáo của ông Hoàn Văn C yêu cầu xác đ nh lại ranh giới đất liền kề từ câ nhãn to đến phần tiếp iáp đường cái thuộc về ia đình ôn Hoàn Văn C, thấy rằng: Tại cấp phúc thẩm, các đươn sự không thỏa thuận đư c với nhau về danh giới đất, ông Hoàn Văn C không cung cấp đư c tài liệu, chứng cứ chứng minh quá trình quản lý sử dụng, cũn như diện tích đất tranh chấp nằm tại thửa đất số 11, tờ bản đồ số 55 của ia đình ôn . Do đó, khôn có căn cứ để chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Hoàn Văn C.
[8] Về chi phí xem xét, thẩm đ nh tại chỗ, đ nh giá tài sản và chi phí đo đạc bằng máy: Ngày 01-6-2020, n u ên đơn bà Vi Th Ng đã nộp 20.000.000 đồng tiền tạm ứng chi phí tố tụng; tổng số tiền chi phí tố tụn đã chi gồm chi phí đo đạc, xem xét thẩm đ nh tại chỗ và đ nh giá tài sản là 16.238.000 đồng (mười sáu triệu hai trăm ba mươi tám n hìn đồng), số tiền thừa chênh lệch là 3.762.000 đồng đã đư c hoàn trả cho bà Vi Th Ng vào ngày 16-7-2020. Do yêu cầu của nguyên đơn bà Vi Th Ng đư c chấp nhận, vì vậy Bản án dân sự sơ thẩm buộc b đơn ôn Hoàn Văn C phải ch u toàn bộ chi phí tố tụn là 16.238.000 đồn là có căn cứ, cần giữ nguyên.
[9] Về án phí dân sự: Bà Vi Th Ng và ông Hoàn Văn C đều là n ười dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùn có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn, căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Ngh quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qu đ nh về án phí, lệ phí Tòa án, các đươn sự thuộc trường h p đư c mi n án phí. Trong quá trình giải quyết vụ án các đươn sự có đơn đề ngh mi n án phí, căn cứ khoản 6 Điều 15 Ngh quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủ ban Thường vụ Quốc hội qu đ nh về án phí, lệ phí Tòa án có cơ sở chấp nhận mi n án phí sơ thẩm và phúc thẩm cho bà Vi Th Ng, ông Hoàng Văn C.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 và khoản 1 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 29 Ngh quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá 14 qu đ nh về mức thu, mi n, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Căn cứ Điều 35; Điều 147; khoản 1 Điều 157; Điều 158; Điều 163; khoản 1 Điều 165; khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 244, Điều 271; 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căncứ Điều4,5,26,97,98,99, 100,166,170và203 Luật Đất đainăm 2013;
Căn cứ Điều 163, 164, 170, 221, 357, 468, 584, 585, 586, 588, 589 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 26 Ngh quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá 14 qu đ nh về mức thu, mi n, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Không chấp nhận kháng cáo của b đơn ôn Hoàn Văn C; giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 05/2020/DS-ST n à 11 thán 8 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạn Sơn, cụ thể:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của n u ên đơn của bà Vi Th Ng, cụ thể hộ ia đình bà Vi Th Ng đư c quản lý, sử dụng diện tích 18m2 đất ( V trí đỉnh thửa: A1, A2, A8, A9, A5, A6, A7) thuộc một phần thửa đất số 22, đất thổ cư đã đư c Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Lạn Sơn cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụn đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số vào sổ cấp GCN: CH02181 và diện tích 2,0m2 đất (V trí đỉnh thửa: A8, A3, A4, A9) thuộc một phần thửa đất số 112, đất trồn câ lâu năm, đều thuộc tờ bản đồ số 55, bản đồ đ a chính xã N, huyện L, tỉnh Lạn Sơn đã đư c Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Lạn Sơn cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụn đất số vào sổ cấp GCN: CH02297, cấp ngày 16-4-2013, cấp cho hộ ông Hoàn Văn M và bà Vi Th Ng và đư c quyền sở hữu, quản lý, sử dụng các tài sản trên đất tranh chấp gồm các cây còn sốn là 02 câ Bưởi, 01 cây nhãn to và các gốc câ đã b chặt bao gồm 02 gốc cây nhãn nhỏ, 01 gốc cây mắc mật, 01 gốc câ bưởi.
Khu đất tranh chấp có v trí tiếp giáp như sau:
Phía Tây giáp với ranh giới bồi thường giải phóng mặt bằng tỉnh lộ 237, có cạnh dài 1,44m;
Các phía còn lại giáp đất nhà bà Vi Th Ng có các cạnh là 3,14m + 17,91m + 3,92m + 2,31m + 6,05m + 9,41m + 7, 88m + 4,99m
( vị trí tiếp giáp, hình thể thửa đất, kích thước các cạnh được thể hiện theo phụ lục khu đất tranh chấp do Công ty S cung cấp, kèm theo)
2. Buộc b đơn ôn Hoàn Văn C và n ười có quyền l i n hĩa vụ liên quan về phía b đơn chấm dứt hành vi tranh chấp quyền sử dụn đất đối với diện tích 18m2 thuộc một phần thửa đất số 22 và diện tích 2,0m2 thuộc một phần thửa đất 112, tờ bản đồ 55, bản đồ đ a chính xã N, huyện L, tỉnh Lạn Sơn và các tài sản có trên đất.
3. Về bồi thường thiệt hại về tài sản: Buộc ông Hoàn Văn C phải bồi thường cho bà Vi Th Ng các cây ông Hoàn Văn C đã chặt bao gồm: 02 cây Nhãn nhỏ, 01 cây Mắc Mật, 01 cây Mít, 01 cây Chanh với tổng số tiền 1.306.000 đồng (một triệu ba trăm ba linh sáu n hìn đồng).
4. Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại 01 câ Bưởi, 01 cây Quýt và 01 cây Nhãn to do bà Vi Th Ng rút yêu cầu bồi thường.
5. Về chi phí xem xét, thẩm đ nh tại chỗ, đ nh iá tài sản: Ông Hoàn Văn C phải ch u tòan bộ chi phí đo đạc, thẩm đ nh, đ nh giá tài sản là 16.238.000 đồn . Bà Vi Th N đã tạm nộp số tiền trên. Ông Hoàn Văn C có n hĩa vụ phải trả cho bà Vi Th N số tiền 16.238.000 đồn (mười sáu triệu hai trăm ba mươi tám n hìn đồn ).
6. Về n hĩa vụ chậm trả: Kể từ n à Bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn êu cầu thi hành án của n ười đư c thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho n ười đư c thi hành án) cho đến khi thi hành xon , bên phải thi hành án còn phải ch u khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất qu đ nh tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trườn h p pháp luật có qu đ nh khác.
7. Về án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm: Ông Hoàn Văn C đư c mi n toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm vì là n ười dân tộc thiểu số, sinh sốn ở vùn có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn.
Nhữn qu ết đ nh khác của Bản án sơ thẩm khôn b khán cáo, khán n h Hội đồn xét xử khôn iải qu ết, có hiệu lực pháp luật kể từ n à hết thời hạn khán cáo, khán n h .
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường h p bản án đư c thi hành theo qu đ nh tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự n ười phải thi hành án dân sự, n ười đư c thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc b cưỡng chế thi hành án qu đ nh tại điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án đư c thực hiện theo qu đ nh tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TANDCC tại Hà Nội; - VKSNDCC tại Hà Nội; - VKSND tỉnh Lạn Sơn; - TAND h.Lộc Bình, tỉnh Lạn Sơn; - VKSND h.Lộc Bình, tỉnh Lạn Sơn; - CCT h.L, tỉnh Lạn Sơn; - Đươn sự; - N ười tham gia tố tụng khác; - Lưu: Hồ sơ; Tòa DS; HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lộc Sơn Thái |