vanban.org

Bản án 77/2019/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Hai Bà Trưng, TP. Hà Nội Tuyên án 23/05/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Chu Văn V phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Chu Văn V 30 ( ba mươi ) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/1/2019. Tịch thu tiêu hủy 01 bì giấy bên trong chứa tinh thể màu trắng khối lƣợng 0,322 gam Methamphetamine đã niêm phong, bên ngoài có chữ ký của giám định viên và bị cáo Chu Văn V và 01 ví da màu nâu. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Chu Văn V - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Chu Văn V phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN HAI BÀ TRƯNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Bản án số: 77/2019/HS-ST
Ngày: 23/5/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƢNG - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lại Nguyệt Ánh

- Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Cúc

Bà Hoàng Thị Thiệu

- Thƣ ký phiên toà: Bà Lê Huyền Thu - Thƣ ký Toà án nhân dân quận Hai Bà Trƣng, Thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trƣng - Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Vi Thị Hương - Kiểm sát viên sơ cấp.

Ngày 23/5/2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trƣng, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 70/2019/HSST ngày 25 tháng 4 năm 2019 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 78/2019/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 4 năm 2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: CHU VĂN V– sinh năm:1987; Tên thƣờng gọi khác: không; HKTT:Số 2 ngõ 195 đƣờng H, phƣờng P, quận K, Hà Nội ; Nơi ở: lang thang; Nghề nghiệp: không có; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ văn hoá:1/12; Con ông: Phạm Văn B; Con bà: Chu Thị D;Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: có 04 tiền án đã đƣợc xóa và 01 tiền sự đã hết thời hiệu, cụ thể: Ngày 17/12/2004: trộm cắp tài sản, TAND Hoàn Kiếm xử 6 tháng án treo 12 tháng thử thách; Ngày 11/2005: tàng trữ trái phép chất ma túy, TAND Ba Đình xử 30 tháng tù giam tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổng hợp hình phạt với bản án số: 353 ngày 24/12/2004 của TAND quận Hoàn Kiếm, tổng hợp hình phạt phải chấp hành 36 tháng tù giam; Tháng 1/2009: TAND quận Ba Đình xử 10 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản; Tháng 1/2016: TAND quận Hoàn Kiếm xử phát 12 tháng tù giam về tội trộm cắp tài sản ; Năm 2009: Công an phƣờng Phúc Tân bắt đi cai nghiện bắt buộc; Danh chỉ bản số: 0072 ngày 17/1/2009 do công an quận Hai Bà Trƣng cấp; Bị cáo bị bắt ngày 16/1/2019.

Bị cáo có mặt tại phiên toà. Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Trần Kim C– sinh năm: 1990; Trú tại: ngõ 533 đƣờng B, phƣờng C, quận H, Hà Nội.

Vắng mặt tại phiên tòa

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Khoảng 12h ngày 14/01/2019, Chu Văn V đi bộ đến khu vực phố chợ Khâm Thiên, P.Khâm Thiên, Q.Đống Đa, Tp. Hà Nội để tìm mua ma túy. Tại đây, V gặp và mua của H ( bạn ngoài xã hội) 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền ma túy. Sau đó, V sử dụng một phần ma túy vừa mua đƣợc, phần còn lại V cất vào trong ví da màu nâu mang theo ngƣời để khi nào có ngƣời hỏi mua sẽ bán lại với giá 200.000đ. Khoảng 02h00 ngày 16/01/2019, V điều khiển xe máy nhãn hiệu Bella không BKS đến đón bạn là Trần Kim C để chở đi chơi. Khi V chở C đến khu vực trƣớc số nhà 58 phố Trần Nhân Tông, P. Nguyễn Du, Q. Hai Bà Trƣng, Tp. Hà Nội thì bị tổ công tác C1D2-PK02E – Công an thành phố Hà Nội phối hợp cùng công an phƣờng Nguyễn Du, quận Hai Bà Trƣng tiến hành kiểm tra hành chính, phát hiện thu giữ tại chỗ chiếc ví da màu nâu trong túi quần phía sau bên phải chiếc quần dài V đang mặc số ma túy trên. Tại chỗ, V khai là mua ma túy “đá” để trong ví V đem đi bán. Tổ công tác đã niêm phong tang vật, đƣa Vvà C về trụ sở công an phƣờng Nguyễn Du để giải quyết.

Ngoài ra, tổ công tác còn thu giữ của V: 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A6 màu xanh, 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1202 màu đen, 01 (một) điện thoại di động Nokia 1208 màu xám, 01 (một) ví da màu nâu đã qua sử dụng và số tiền 500.000đ (năm trăm nghìn dồng).

Thu giữ của Trần Kim C: 01 (một) điện thoại di dộng nhãn hiệu Nokia 8110 màu xanh đen và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo F5 màu hồng (đã qua sử dụng).

Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an quận Hai Bà Trƣng đã ra Quyết định trƣng cầu giám định đối với số ma túy thu giữ trên.

Tại Kết luận giám định số 611/ KLGĐ-PC09 ngày 24/01/2019, Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà nội kết luận: “tinh thể màu trắng bên trong 01 gói nilong là ma túy loại methamphetamine, khối lượng 0,322 gam”.

Quá trình điều tra ban đầu Chu Văn V khai nhận ngoài hành vi phạm tội ngày 16/01/2019 V còn bán trái phép chất ma túy vào các ngày 12,14/01/2019. Sau đó, V thay đổi lời khai không thừa nhận bán ma túy trái phép vào những ngày nêu trên. Tài liệu đã thu nhập trong hồ sơ không đủ căn cứ xác định Chu Văn V mua bán trái phép chất ma túy nhiều lần.

Đối với Trần Kim C, quá trình điều tra xác định C không biết Chu Văn V mua bán trái phép chất ma túy nên Cơ quan điều tra không đặt vấn đề xử lý.

Đối với ngƣời đàn ông tên H đã bán ma túy cho V vào ngày 14/01/2019: Quá trình điều tra không xác định đƣợc nhân thân, lai lịch nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh, làm rõ.

Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Bella, BKS 98B1 – 538.61: qua giám định có số khung: 006796, số máy: B00999 là số nguyên thủy. Quá trình điều tra, chƣa xác định đƣợc chủ sở hữu hợp pháp nên Cơ quan điều tra ra quyết định tách tài liệu liên quan đến chiếc xe máy trên để xác minh xử lý sau.

Đối với 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A6 màu xanh. 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1202 màu đen, 01 ( một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1208 màu xám,01 (một) ví da màu nâu (đã qua sử dụng) và số tiền 500.000đ ( năm trăm nghìn đồng): Quá trình điều tra đƣợc xác định là tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của V, không liên quan đến hành vi mua bán trái phép chất ma túy của V.

Đối với 01 ( một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 8110 màu xanh đen, 01 (một) điện thoại di dộng nhãn hiệu Oppo F5 màu hồng: quá trình điều tra xác định là tài sản thộc sở hữu hợp pháp của Trần Kim C, không liên quan đến hành vi mua bán chất ma túy.

Tại cáo trạng số: 78/CT-VKS ngày 22/4/2019, Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trƣng, Thành phố Hà Nội đã truy tố Chu Văn V về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa,

Bị cáo khai nhận tội nhƣ nội dung cáo trạng đã nêu. Bị cáo thừa nhận: Khoảng 02 giờ 00 phút ngày 16/1/2019, tại trƣớc cửa nhà số 58 phố Trần Nhân Tông, phƣờng Nguyễn Du, Q. Hai Bà Trƣng, Hà Nội, bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,322 gam Methamphetamine mục đích để bán. Bị cáo nhận tội, xin đƣợc giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trƣng giữ quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích nội dung, tính chất vụ án, một lần nữa khẳng định việc truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nhƣ cáo trạng đã nêu là đúng ngƣời, đúng tội, đúng pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 251 khoản 1; Điều 51 khoản 1 điểm s của BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt: Chu Văn V với mức án từ 30 tháng đến 36 tháng tù.

Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 0,322 gam Methamphetamine và 01 ví da màu nâu thu giữ của bị cáo. Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A6 màu xanh, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1202 màu đen, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 màu xám và 500.000 đồng.

Trả lại Trần Kim C 01 điện thoại di động Nokia 8110 màu xanh đen, 01 điện thoại di động Oppo F5 màu hồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra công an quận Hai Bà Trƣng, thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trƣng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi và tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo, biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang và các tài liệu, chứng cứ khác tại cơ quan điều tra. Đƣợc chứng minh bằng tang vật vụ án thu đƣợc của bị cáo 01 túi nilon bên trong có chứa tinh thể màu trắng. Theo Kết luận giám định số: 611/KLGĐ-PC09 ngày 03/1/2019, Phòng kỹ thuật hình sự công an thành phố Hà Nội kết luận: tinh thể màu trắng bên trong 01 gói nilon là ma túy loại Methamphetamine khối lƣợng 0,322 gam . Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 02 giờ 00 phút ngày 16/1/2019 tại trƣớc cửa nhà số 58 phố Trần Nhân Tông, phƣờng Nguyễn Du, Q. Hai Bà Trƣng, Hà Nội, bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,322 gam Methamphetamine mục đích để bán . Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt quy định tại Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015.

Về nhân thân, tiền án, tiền sự và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Xét nhân thân của bị cáo có 04 tiền án và 01 tiền sự đều đã đƣợc xóa và hết thời hiệu chứng tỏ bị cáo đã đƣợc các cơ quan pháp luật giáo dục cải tạo nhƣng vẫn tiếp tục phạm tội.

Tại phiên tòa hôm nay cũng nhƣ tại cơ quan điều tra bị cáo đã thành khẩn khai nhận tội nên áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 cho bị cáo.

Về hình phạt:

- Hành vi Mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sự độc quyền quản lý ma túy của Nhà nƣớc ta, xâm phạm trật tự, an toàn xã hội. Bị cáo nhận thức đƣợc tác hại của ma túy, nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhƣng do nghiện vẫn cố tình phạm tội. Bị cáo có nhân thân xấu lại phạm tội nghiêm trọng với lỗi cố ý. Do đó, cần phải áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong xã hội.

Tuy nhiên, bị cáo đã thành khẩn khai nhận tội tỏ ra ăn năn hối cải nên giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

- Về hình phạt bổ sung: xét trong trƣờng hợp này bị cáo không nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên miễn phạt tiền.

Về biện pháp tƣ pháp: áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự 2015 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tịch thu tiêu hủy 0,322 gam Methamphetamine và 01 ví da màu nâu đựng ma túy thu giữ của bị cáo.

Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A6 màu xanh, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1202 màu đen, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 màu xám và 500.000 đồng do không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo.

Trả lại Trần Kim C 01 điện thoại di động Nokia 8110 màu xanh đen, 01 điện thoại di động Oppo F5 màu hồng do không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào Điều 251 khoản 1; Điều 51 khoản 1 điểm s Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo Chu Văn V phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Chu Văn V 30 ( ba mươi ) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/1/2019.

-Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự 2015 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015:

Tịch thu tiêu hủy 01 bì giấy bên trong chứa tinh thể màu trắng khối lƣợng 0,322 gam Methamphetamine đã niêm phong, bên ngoài có chữ ký của giám định viên và bị cáo Chu Văn V và 01 ví da màu nâu.

Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A6 màu xanh, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1202 màu đen, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 màu xám 500.000 đồng.

Trả lại Trần Kim C 01 điện thoại di động Nokia 8110 màu xanh đen, 01 điện thoại di động Oppo F5 màu hồng do không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo.

( Biên bản giao nhận tang vật, vật chứng ngày 24 tháng 4 năm 2019, tang vật số 147/2019 của Chi cục thi hành án dân sự quận Hai Bà Trƣng, thành phố Hà Nội và giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 24 tháng 4 năm 2019 tại Kho bạc nhà nƣớc quận Hai Bà Trƣng, thành phố Hà Nội ).

- Căn cứ Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331 khoản 1; Điều 332 và Điều 333; Điều 336; Điều 337 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Điều 21 khoản 1 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy

ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án cùng danh mục kèm theo.

Bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án

Ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày đƣợc tống đạt hợp lệ bản án./.

TM . HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ