vanban.org

Bản án 77/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước Tuyên án 26/11/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thanh H - phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (điều 175 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 175 Bộ luật Hình sự
TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!
HUYỆN!H!
TỈNH!BÌNH!PHƯỚC!
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 77/2019/HS-ST
Ngày 26-11-2019

NHÂN!DANH!

NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!!

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!HUYỆN!H,!BÌNH!PHƯỚC!

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Hải

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Bùi Văn Hồng

Ông Võ Phi Hùng

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện H

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sơn - Kiểm sát viên.

Trong ngày 26 tháng 11 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 75/2019/TLST-HS ngày 18 tháng 10 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 82/2019/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 11 năm 2019 đối với bị cáo:

Nguyễn Thanh H, sinh năm 1997 tại Cà Mau; HKTT: Khóm S, thị trấn N, huyện N, tỉnh Cà Mau; nơi ở hiện nay: Tổ 5, ấp 4, xã M, huyện H, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hoá (học vấn): 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Minh H và bà Trà Thị P; tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/3/2019 đến ngày 18/3/2019 được tại ngoại. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

*Người bị hại:

Thị Ph, sinh năm 1995. Vắng mặt

Trú tại: ấp S, xã M, huyện H, tỉnh Bình Phước

*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Trà Thị P, sinh năm 1975. Có mặt

Trú tại: tổ 5, ấp 4, xã M, huyện H, tỉnh Bình Phước

Điểu Đạo, sinh năm 1988. Vắng mặt

Trú tại: ấp S, xã M, huyện H, tỉnh Bình Phước

Nguyễn Đình T, sinh năm 1977. Vắng mặt

Trú tại: tổ 6, ấp 1, xã M, huyện H, tỉnh Bình Phước

NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyên Thanh H là bạn bè quen biết với Thị Ph. Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 14/3/2019, H gọi điện cho chị Ph và nói “Chạy qua nhà trọ của H nhờ chút việc”. Sau đó chị Thị Ph điều khiển xe mô tô Exciter, biển số 93C1-xxxxx đến phòng trọ do H thuê tại ấp 3B, xã M, huyện C, tỉnh Bình Phước. Khi gặp Ph thì H nói “cho anh mượn xe đi làm chuồng gà cho bạn, đến 16 giờ 30 phút em tan ca về anh trả xe cho em”. Nghe vậy, chị Thị Ph đồng ý cho H mượn xe đồng thời H chở chị Ph đến công ty Long Fa để đi làm còn H điều khiển xe mô tô đến xã M, huyện H, tỉnh Bình Phước gặp một người bạn tên Hiếu (không rõ nhân thân) để phụ làm chuồng gà nhưng không gặp. Do không gặp được Hiếu nên H đi đến khu vực thuộc ấp 3, xã M để tham gia cá cược đá gà thắng thua bằng tiền và đã thua hết số tiền 5.000.000đ H mang theo.

Đến khoảng 10 giờ cùng ngày, do không còn tiền để tham gia cá cược nên H đã nảy sinh ý định mang xe mô tô mượn của chị Ph đi cầm cố để lấy tiền tiếp tục chơi đá gà. Sau đó H điều khiển xe mô tô đến tiệm cầm đồ “Nguyễn Th” thuộc ấp 1, xã M, huyện H, tỉnh Bình Phước do anh Nguyễn Đình Th làm chủ để cầm cố xe. Tại đây, H nói với anh Th “anh cầm cho em chiếc xe”, anh Th hỏi “xe của ai, xe có giấy tờ không?” H trả lời “xe của em, xe em trả góp nên không có giấy”. Anh Th và H thỏa thuận cầm xe trên với giá 15.000.000đ. Sau khi có tiền, H quay lại sới gà để tiếp tục cá cược và thua hết số tiền 15.000.000đ. Sau đó H đến tiệm cầm đồ “Nguyễn Th” để cầm cố chiếc xe trên thêm số tiền 1.500.000đ và tiếp tục quay lại sới gà để cá cược và thua hết số tiền trên.

Đến 16 giờ 30 phút cùng ngày, chị Ph điện thoại cho H để lấy xe đi về nhà nhưng không liên lạc được. Đến khoảng 03 giờ ngày 15/3/2019, H gọi điện cho Phnói “xe bị công an bắt giữ rồi, đừng gọi nữa, đến sáng ngày 15/3/2019 H sẽ lấy xe. Cũng tại thời điểm này, H đi vay mượn tiền của người khác để chuộc lại xe cho Ph nhưng không có tiền.

Đến khoảng 16 giờ 30 phút ngày 15/3/2019, do không thấy H trả xe nên chị Ph đã đến công an xã M trình báo sự việc, còn H cũng đến công an xã đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

Tại bản kết luận định giá số 28/KL-HĐĐGTTTHS ngày 01/4/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự công an huyện H kết luận: giá trị còn lại của xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Exciter 150, màu trắng – đỏ - đen, biển số 93C1-xxxxx tại thời điểm bị chiếm đoạt có giá trị là 38.400.000đ.

Vật chứng của vụ án: 01 xe mô tô Exciter, biển số 93C1-xxxxx

Trách nhiệm dân sự: do chiếc xe đã được lấy lại và trả cho người bị hại, chị Thị Phx không có yêu cầu gì.

Bà Trà Thị Pxđã thay bị cáo trả lại cho anh Nguyễn Đình Thx số tiền 16.500.000đ, anh Thx không có yêu cầu gì.

Tại bản cáo trạng số 69/CT-VKS ngày 17/10/2019 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Hxtruy tố bị cáo Nguyễn Thanh Hx về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 175 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện H đã truy tố đối với bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H giữ nguyên quan điểm của bản cáo trạng số 69/CT-VKS ngày 17/10/2019, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh H phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, áp dụng điểm b khoản 1 Điều 175, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh H mức án từ 09 tháng đến 12 tháng tù.

Bị cáo nói lời sau cùng: bị cáo mới lấy vợ nhưng chưa đăng ký kết hôn, vợ đang mang bầu. Mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo sớm trở về chăm sóc vợ con.

NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:!!

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

1].Trong quá trình điều tra, truy tố, các hành vi, quyết định của cơ quan điều tra Công an, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Xét thấy, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, vật chứng của vụ án, kết luận định giá tài sản, cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: ngày 14/3/2019, bị cáo Nguyễn Thanh H mượn xe mô tô Exciter, biển số 93C1-xxxxx của chị Thị Ph để đi làm chuồng gà cho người bạn tên Hiếu. Do không gặp Hiếu nên H đã đi chơi cá cược đá gà ăn tiền. Sau khi thua hết số tiền mang theo, H nảy sinh ý định và đã cầm cố chiếc xe của chị Thị Ph lấy tiền cá cược và thua hết số tiền trên. Chiếc xe mô tô Exciter, biển số 93C1-xxxxx bị cáo chiếm đoạt có giá trị là 38.400.000đ.

Hành vi mượn chiếc xe mô tô là tài sản của chị Thị Ph rồi dùng tài sản này cầm cố để lấy tiền tiêu xài là sử dụng tài sản vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại của bị cáo H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 175 của Bộ luật hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3]. Hành vi của bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, làm mất lòng tin giữa người với người, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Khi thực hiện hành vi, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật nhưng do muốn có tiền đề tiếp tục cá cược, thỏa mãn nhu cầu của mình nên bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với hành vi và hậu quả mà bị cáo đã gây ra.

Tuy nhiên, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiệm trọng, sau khi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tự nguyện khắc phục hậu quả, bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự được Hội đồng xét xử áp dụng khi lượng hình đối với bị cáo.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

[4]. Trách nhiệm dân sự:

Chiếc xe bị cáo đã chiếm đoạt của chị Thị Ph là xe của anh Điểu Đ, cơ quan điều tra đã thu giữ và trả lại cho anh Điểu Đ. Chị Thị Ph và anh Điểu Đ không có yêu cầu gì nên không xem xét.

Bà Trà Thị P đã tự nguyện thay bị cáo trả cho anh Nguyễn Đình Th số tiền 16.500.000đ. Anh Th không yêu cầu gì, bà Trà Thị Ph không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền trên nên không xem xét.

[5].Vật chứng của vụ án gồm:

-01 xe mô tô Exciter, biển số 93C1-xxxxx của anh Điểu Đ, cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Đ nên không xem xét.

[6]. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử cần được chấp nhận.

Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT!ĐỊNH:

[1]. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh H phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

[2]. Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 175; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh H 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo thi hành án phạt tù được khấu trừ thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/3/2019 đến ngày 18/3/2019.

[3]. Trách nhiệm dân sự:

Người bị hại chị Thị Ph, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Điểu Đ và anh Nguyễn Đình Th không có yêu cầu nên không xem xét.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trà Thị P không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền 16.500.000đ nên không xem xét.

[4]Vật chứng của vụ án:

01 chiếc xe mô tô Exciter, biển số 93C1-xxxxx đã trả lại cho chủ sỡ hữu anh Điểu Đ nên không xem xét.

[4]. Án phí và quyền kháng cáo:

Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án; người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ