vanban.org

Bản án 77/2019/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Lạng Sơn Tuyên án 23/10/2019 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 23/10/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Giao bị cáo Đoàn Ngọc H cho Uỷ ban nhân dân thị trấn H, huyện T, tỉnh Quảng Nam để giám sát và giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ.

Giao bị cáo Đặng Ngọc T cho Uỷ ban nhân dân xã D, huyện D, tỉnh Quảng Nam để giám sát và giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Giao bị cáo Nguyễn Đức T cho Uỷ ban nhân dân xã B, huyện T, tỉnh Quảng Nam để giám sát và giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đoàn Ngọc H - Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Giao bị cáo Đoàn Ngọc H cho Uỷ ban nhân dân thị trấn H, huyện T, tỉnh Quảng Nam để giám sát và giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 77/2019/HS-PT
Ngày 23-10-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoa

Các Thẩm phán: Ông Cao Đức Chiến

Ông Lộc Sơn Thái

- Thư ký phiên toà: Bà Tạ Thị Hồng Trâm - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Bà Lương Thị Hòa - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 10 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn xét xử phúc thẩm vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 115/2019/TLPT-HS ngày 30 tháng 9 năm 2019 đối với bị cáo Đoàn Ngọc H và đồng phạm, do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 57/2019/HS-ST ngày 21 tháng 8 năm 2019 của Toà án nhân dân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn.

- Các bị cáo có kháng cáo

1. Đoàn Ngọc H, sinh ngày 22-6-1988 tại huyện T, tỉnh Quảng Nam. Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: Thị trấn H, huyện T, tỉnh Quảng Nam; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Đình H và bà Huỳnh Thị Q; có vợ Lương Thị Kim D (đã ly hôn); có 01 con; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chưa bị xử lý vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật, bị tạm giữ từ ngày 08-5-2019 đến ngày 14-5-2019, bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại; có mặt.

2. Đặng Ngọc T, sinh ngày 19-3-1987 tại huyện D, tỉnh Quảng Nam. Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: Thôn C, xã D, huyện D, tỉnh Quảng Nam; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Ngọc L và bà Võ Thị C; có vợ Phan Thị M; có 02 con; tiền án: Không, tiền sự: Ngày 28-01-2019, bị cáo bị Công an huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam xử phạt 7.500.000 đồng về hành vi Tàng trữ trái phép pháo nổ; nhân thân: Chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự, ngày 15-9-2014, bị cáo bị Công an huyện Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam xử phạt 5.000.000 đồng về hành vi Mua lâm sản (gỗ) trái pháp luật; bị tạm giữ từ ngày 08-5-2019 đến ngày 14-5-2019, bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại; có mặt.

3. Nguyễn Đức T, sinh ngày 19-11-1993 tại huyện T, tỉnh Quảng Nam. Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: Thôn Q, xã B, huyện T, tỉnh Quảng Nam; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đức H và bà Võ Thị H; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chưa bị xử lý vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật; bị tạm giữ từ ngày 08-5-2019 đến ngày 14-5-2019, bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đoàn Ngọc H , Đặng Ngọc T, Nguyễn Đức T và Đặng Trung Q là lái xe thuê cho Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Đ. Ngày 05-5-2019, Đoàn Ngọc H và Đặng Trung Q được Công ty giao nhiệm vụ điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 98C-089.32 vận chuyển hàng hóa từ tỉnh Quảng Ngãi đến địa phận tỉnh Lạng Sơn để sang Trung Quốc giao hàng cho khách. Khoảng 17 giờ ngày 07-5-2019, khi giao hàng xong do biết Nguyễn Đức T, Đặng Ngọc T cũng đang giao hàng trên tỉnh Lạng Sơn nên Đặng Trung Q đã gọi điện và hẹn nhau trên đường quay về cùng nhau ăn tối. Sau khi ăn cơm xong, Đoàn Ngọc H rủ Nguyễn Đức T và Đặng Ngọc T tìm cây xăng nghỉ ngơi và đánh bạc một lúc cho vui, cả hai đồng ý. Khoảng 21 giờ cùng ngày, các đối tượng điều khiển xe đến đỗ tại sân Cửa hàng dầu thuộc địa phận thôn P, thị trấn C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn, Đoàn Ngọc H đi mua 01 bát và 01 đĩa sứ, còn Nguyễn Đức T mua một bộ bài tú lơ khơ và cắt 04 quân vị để làm dụng cụ đánh bạc. Sau đó Đoàn Ngọc H, Đặng Ngọc T, Nguyễn Đức T đánh bạc bằng hình thức xóc đĩa được thua bằng tiền trên ca bin xe ô tô tải biển kiểm soát 43C-158.48, còn Đặng Trung Q nằm ở giường phía sau, không tham gia đánh bạc. Đến khoảng 22 giờ 15 phút cùng ngày, thì bị Công an huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn bắt quả tang, thu giữ trên chiếu bạc số tiền 5.450.000 đồng, thu giữ trên người Đoàn Ngọc H 250.000 đồng, Nguyễn Đức T 1.500.000 đồng mục đích sử dụng vào việc đánh bạc.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 57/2019/HS-ST ngày 21-8-2019 của Tòa án nhân dân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn đã quyết định: Tuyên bố các bị cáo Đoàn Ngọc H, Đặng Ngọc T, Nguyễn Đức T phạm tội Đánh bạc. Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s, khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015; xử phạt bị cáo Đoàn Ngọc H 09 tháng tù; xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T 08 tháng tù. Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Đặng Ngọc T 09 tháng tù. Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của các bị cáo.

Trong thời hạn luật định, các bị cáo Đoàn Ngọc H, Đặng Ngọc T, Nguyễn Đức T kháng cáo xin được hưởng cải tạo không giam giữ.

Tại phiên tòa, các bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo xin được hưởng cải tạo không giam giữ.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Bản án sơ thẩm kết án các bị cáo về tội Đánh bạc là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét khách quan toàn diện tính chất, mức độ hành vi phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo. Xét thấy, các bị cáo là lái xe đường dài khi dừng chân nghỉ đêm đã bột phát cùng nhau tham gia đánh bạc; vụ án mang tính chất đồng phạm giản đơn; bị cáo Đặng Ngọc T có vai trò thứ yếu hơn các bị cáo khác; số tiền các bị cáo tham gia đánh bạc không lớn; các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tại cấp phúc thẩm, các bị cáo xuất trình văn bản trình bày điều kiện, hành cảnh của bản thân, của gia đình và xin được hưởng cải tạo không giam giữ có xác nhận của chính quyền địa phương. Đối chiếu theo các quy định của pháp luật các bị cáo có đủ điều kiện được hưởng cải tạo không giam giữ. Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, sửa một phần Bản án sơ thẩm, chuyển hình phạt, cho các bị cáo được hưởng cải tạo không giam giữ với mức từ 24 đến 30 tháng, được khấu trừ thời gian tạm giữ theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội đúng như Bản án sơ thẩm đã tuyên, cụ thể: Hồi 22 giờ 15 phút ngày 07-5-2019 tại sân Cửa hàng xăng dầu thuộc địa phận thôn P, thị trấn C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn, các bị cáo Đoàn Ngọc H, Đặng Ngọc T, Nguyễn Đức T có hành vi đánh bạc bằng hình thức xóc đĩa được thua bằng tiền ở trên cabin xe ô tô tải biển kiểm soát 43C-158.48. Tổng số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc là 7.200.000 đồng. Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo về tội Đánh bạc theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và không oan.

Xét kháng cáo xin được hưởng cải tạo không giam giữ của các bị cáo Hội đồng xét xử thấy rằng: Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá khách quan, toàn diện các vấn đề của vụ án. Tại cấp phúc thẩm, các bị cáo xuất trình thêm Văn bản thể hiện: Từ khi được tại ngoại các bị cáo luôn chấp hành tốt các quy định của pháp luật và có những đóng góp tích cực tại nơi đang cư trú; các bị cáo đang là lao động chính trong nhà; hoàn cảnh gia đình các bị cáo gặp nhiều khó khăn; chính quyền địa phương nơi các bị cáo đang cư trú xác nhận nội dung đơn của các bị cáo là đúng sự thật và đề nghị Tòa án quan tâm, tạo điều kiện giải quyết cho các bị cáo theo nội dung đơn đã trình bày. Đây là tình tiết mới phát sinh tại cấp phúc thẩm. Xét thấy, các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015; không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; các bị cáo là lái xe đường dài khi dừng chân nghỉ đêm đã bột phát cùng nhau tham gia đánh bạc; vụ án mang tính chất đồng phạm giản đơn; bị cáo Đặng Ngọc T có vai trò thứ yếu hơn các bị cáo khác; số tiền các bị cáo tham gia đánh bạc không lớn; các bị cáo có nơi cư rõ ràng; trong thời gian tại ngoại vừa qua không có hành vi bỏ trốn hay vi phạm pháp luật; có khả năng tự cải tạo và không cần thiết phải cách ly người phạm tội ra khỏi xã hội. Đối chiếu với các quy định về cải tạo không giam giữ, các bị cáo có đủ điều kiện được hưởng cải tạo không giam giữ nên Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, sửa một phần Bản án sơ thẩm, chuyển sang hình phạt khác (cải tạo không giam giữ) cho các bị cáo. Do các bị cáo là lao động chính trong nhà, điều kiện kinh tế của gia đình còn nhiều khó khăn nên không thực hiện khấu trừ thu nhập đối với các bị cáo.

Trong quá trình điều tra, các bị cáo đã bị tạm giữ 07 ngày (từ ngày 08-5-2019 đến ngày 14-5-2019). Vì vậy, thời hạn tạm giữ này sẽ được Tòa án trừ vào thời gian chấp hành cải tạo không giam giữ, cứ 01 ngày tạm giữ bằng 03 ngày cải tạo không giam giữ.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn tại phiên tòa là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội đã xảy ra, đúng với các quy định của pháp luật về xử lý đối với hành vi trên nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Do kháng cáo của các bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Các phần quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm đ khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; chấp nhận kháng cáo xin được cải tạo không giam giữ của các bị cáo Đoàn Ngọc H, Đặng Ngọc T, Nguyễn Đức T; sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số: 57/2019/HS-ST ngày 21 tháng 8 năm 2019 của Toà án nhân dân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn đối với phần hình phạt tù của các bị cáo Đoàn Ngọc H, Đặng Ngọc T, Nguyễn Đức T, cụ thể như sau:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17 Điều 58, Điều 36 của Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Đoàn Ngọc H 27 tháng cải tạo không giam giữ về tội Đánh bạc. Thời hạn cải tạo không giam giữ được tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án; được khấu trừ đi thời gian tạm giữ là 07 ngày (từ ngày 08-5-2019 đến ngày 14-5-20190) được quy đổi thành 21 ngày cải tạo không giam giữ.

2. Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17 Điều 58, Điều 36 của Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Đặng Ngọc T 27 tháng cải tạo không giam giữ về tội Đánh bạc. Thời hạn cải tạo không giam giữ được tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án; được khấu trừ đi thời gian tạm giữ là 07 ngày (từ ngày 08-5-2019 đến ngày 14-5-20190) được quy đổi thành 21 ngày cải tạo không giam giữ.

3. Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17 Điều 58, Điều 36 của Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T 24 tháng cải tạo không giam giữ về tội Đánh bạc. Thời hạn cải tạo không giam giữ được tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án; được khấu trừ đi thời gian tạm giữ là 07 ngày (từ ngày 08-5-2019 đến ngày 14-5-20190) được quy đổi thành 21 ngày cải tạo không giam giữ.

Giao bị cáo Đoàn Ngọc H cho Uỷ ban nhân dân thị trấn H, huyện T, tỉnh Quảng Nam để giám sát và giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ.

Giao bị cáo Đặng Ngọc T cho Uỷ ban nhân dân xã D, huyện D, tỉnh Quảng Nam để giám sát và giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ.

Giao bị cáo Nguyễn Đức T cho Uỷ ban nhân dân xã B, huyện T, tỉnh Quảng Nam để giám sát và giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ.

Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật Thi hành án hình sự.

4. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Bị cáo Đoàn Ngọc H, Đặng Ngọc T, Nguyễn Đức T không phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ