vanban.org

Bản án 77/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HU N H ỚI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số:77/2019/HNGĐ-ST.
Ngày: 16/5/2019.
V/v tranh chấp HNGĐ - Ly hôn.

NHÂN DANH

NƢỚ ỘNG HÒA XÃ HỘI HỦ NGHĨA VI T NA

TÒA ÁN NHÂN DÂN HU N H ỚI T NH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ng Trần Thanh Bình.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. ng Huỳnh Văn Được.

2. ng Huỳnh Thanh Tuấn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ch M i t nh An Giang tham gia phiên toà: Không tham gia.

Ngày 16 tháng 5 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 29/2019/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 01 năm 2019 về tranh chấp hôn nhân gia đình “ Ly hôn, Nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 71/2019/QĐXX-ST ngày 27 tháng 3 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Võ Thị Cẩm Q – sinh năm 1999. Nơi cư trú: Ấp BT, xã BPX, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Có mặt.

2.Bị đơn: Anh Nguyễn Ngọc P – sinh năm 1991. Nới cư trú: Ấp AK, xã ATT, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, bảng tự khai nguyên đơn chị Võ Thị Cẩm Q trình bày: Chị và anh P kết hôn vào năm 2016, hôn nhân là do mai mối, có đăng ký kết hôn theo quy định cuả pháp luật, vợ chồng chung sống khoản 02 năm thì xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân do anh P không lo làm ăn, chỉ ăn chơi nên cuộc sống không hạnh phúc. Vợ chồng không còn chung sống từ tháng 9/2017 đến nay, nhận thấy tình cảm không còn yêu cầu được ly hôn với chồng là Nguyễn Ngọc P .

Bị đơn anh Nguyễn Ngọc P trình bày: Anh và chị Q chung sống với nhau vào năm 2015, hôn nhân là do mai mối, có làm đám cưới sau đó có đăng ký kết hôn theo quy định, vợ chồng chung sống đến năm 2017 thì mâu thuẫn nguyên nhân do anh ăn chơi không lo cho vợ và con nên vợ bỏ đi từ đó đến nay, anh có tới lui thăm nom con. Vợ xin ly hôn do còn thương vợ con yêu cầu Tòa án cho hàn gắn.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Võ Tường V, sinh ngày 12/3/2017 hiện chị Q đang nuôi dưỡng, khi ly hôn chị Q yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, anh P yêu cầu được nuôi con chung không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản: Không yêu cầu giải quyết

Về nợ chung: không có.

NHẬN ĐỊNH ỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1].Về thủ tục tố tụng: Chị Võ Thị Cẩm Q khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Ngọc P , anh P có nới cư trú tại ấp AK, xã ATT, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang nên Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 28, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Anh Nguyễn Ngọc P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án.

[2].Về nội dung

[2.1].Về quan h hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Q và anh P là hợp pháp vì có đăng ký kết hôn. Xét tình trạng hôn nhân của anh chị thấy rằng vợ chồng mâu thuẫn bất đồng quan điểm nguyên nhân do anh P không lo lắng trong gia đình chỉ lo ăn chơi nên chị Q bỏ đi vợ chồng không chung sống với nhau từ tháng 9/2017 đến nay không ai quan tâm đến. Trong quá trình giải quyết anh P có xin cho vợ chồng hàn gắn nhưng anh P không đến gặp chị Q để hàn gắn tình cảm vợ chồng, cho thấy anh P không có thiện chí để hàn gắn tình cảm vợ chồng vợ nên mục đích hôn nhân không đạt. Chị Q vẫn cương quyết xin ly hôn. Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 ngh nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Q.

[2.2].Về quan h con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Võ Tường V, sinh ngày 12/3/2017 hiện đang sống chung với chị Q. Xét thấy cháu V dưới 36 tháng tuổi hiện chị Q đang nuôi dưỡng cuộc sống đã ổn định; Căn cứ Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình ngh nên giao con chung cho Q nuôi dưỡng, anh P không phải cấp dưỡng nuôi con.

Chị Võ Thị Cẩm Q cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở anh P trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì lợi ích của con chung, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

[2.3].Về tài sản: Không có.

[2.4].Về nợ chung: Ghi nhận chị Q xác định không có nợ chung, nhưng sau khi bản án ly hôn có hiệu lực pháp luật, nếu có đương sự xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì hai bên phải liên đới chịu trách nhiệm trong vụ án khác.

[2.5]Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Chị Q phải chịu theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QU ẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 28, Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 273, điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

[1]. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Võ Thị Cẩm Q xin ly hôn với anh Nguyễn Ngọc P .

Giấy chứng nhận kết hôn số 113 do Ủy ban nhân dân xã An Thạnh Trung, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang cấp ngày 25/8/2017 không còn giá trị pháp lý.

[2]. Về quan hệ con chung:

Chị Võ Thị Cẩm Q được tiếp tục nuôi con chung tên Võ Tường V, sinh ngày 12/3/2017. Anh Nguyễn Ngọc P không phải cấp dưỡng nuôi con.

Chị Q cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở anh P trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì lợi ích của con chung, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

[3].Về quan h tài sản chung: Không có.

[4].Về quan h nợ chung: Ghi nhận chị Võ Thị Cẩm Q xác định không có nợ chung, nhưng sau khi bản án ly hôn có hiệu lực pháp luật, nếu có đương sự xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì hai bên phải liên đới chịu trách nhiệm trong vụ án khác.

[5]. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Chị Võ Thị Cẩm Q phải chịu 300.000đ được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ theo biên lai thu tiền số 0012422 ngày 08/01/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Chợ Mới.

Báo cho các bên đương sự biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng anh P có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, thời hạn kháng cáo được tính từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

T . HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨ

THẨ PHÁN - HỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ