vanban.org

Bản án 77/2018/HSST — Hình sự

TAND huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La Tuyên án 16/08/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Hà Công Tr và Lò Tiến N phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt: Lò Tiến N 20 (Hai mươi) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tình từ ngày tạm giam 20/3/2018. Không áp dụng phạt bổ sung đối với các bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hà Công Tr và đồng phạm - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Hà Công Tr và Lò Tiến N phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TAND HUYỆN V H
TỈNH SƠN LA
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 77/2018/HS-ST
Ngày 16 tháng 8 năm 2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V H, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Quang.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Mùi Văn Hoạt và bà Nguyễn Thị Lư.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Xuân Vinh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện VH, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyệnVHtham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tr Hiệp - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 8 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện VH, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 66/2018/TLST-HS ngày 22 tháng 6 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 78/2018/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 8 năm 2018, đối với các bị cáo:

1. Hà Công Tr, sinh năm 1995, tại Hòa Bình.

Nơi cư trú: Xóm B, xã P B, huyện M Ch, tỉnh Hòa Bình; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Thái; giới tính: N; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt N; con ông: Hà Công Th và bà Hà Thị S; Bị cáo chưa có vợ con;

Tiền án, Tiền sự: không;

Bị bắt, tạm giam ngày 20 tháng 3 năm 2018 đến nay. Có mặt.

2. Lò Tiến N, sinh năm 1994, tại Hòa Bình.

Nơi cư trú: Xóm Ch L, xã T Đ, huyện M Ch, tỉnh Hòa Bình; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hoá: 12/12 ; dân tộc: Thái; giới tính: N; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt N; con ông: Lò Văn Lvà bà Hà Thị Th; Bị cáo chưa có vợ con;.

Tiền sự: không;

Tiền án: Ngày 30/6/2014 Tòa án nhân dân huyện M Ch, tỉnh Hòa Bình xử phạt 30 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, đã chấp hành xong án phí HSST. Chấp hành xong hình phạt ngày 27/4/2016

Bị bắt, tạm giam ngày 20 tháng 3 năm 2018 đến nay. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 17 giờ 00 phút, ngày 20/3/2018, tại nhà của Tráng A B, sinh năm 1967, địa chỉ bản C T, xã L L, huyện VH, tỉnh Sơn La. Tổ công tác Công an huyện VHphát hiện bắt quả tang Hà Công Tr và Lò Tiến N tàng trữ trái phép chất ma túy. Tang vật thu giữ là 01 gói nilon màu đen bên trong có 02 viên nén màu hồng, bề mặt mỗi viên đều có ký hiệu WY, Tr và N khai nhận đó là ma túy tổng hợp (Hồng Phiến). Hà Công Tr và Lò Tiến N khai nhận: do cùng nghiện ma túy và quen nhau, khoảng 14 giờ 00 ngày 20/3/2018 Tr gọi điện thoại rủ N lên bản C T, xã L L, huyện VH, tỉnh Sơn La tìm mua ma túy sử dụng. N đồng ý, Tr điều khiển xe máy đến nhà đưa cho N chở Tr đến nhà một người đàn ông dân tộc Mông, tên là B ở bản C T. Tại đây, Tr và N gặp B và con trai đang ở nhà. Tr đưa cho B 550.000 đồng nhờ B mua hộ 400.000 đồng Heroine và 150.000 đồng Hồng phiến. B cầm tiền, đưa cho con trai 150.000 đồng bảo đi mua Hồng phiến, còn B cầm 400.000 đồng và lấy xe máy của Tr đi mua Heroine. Khoảng 15 phút sau, con trai B mang về đưa cho Tr 01 gói nilon màu đen bên trong đựng 03 viên Hồng phiến. Tr lấy ra 01 viên cùng N sử dụng ngay tại nhà B. Khi cả hai vừa sử dụng xong thì bị phát hiện bắt giữ.

Tiến hành khám xét nơi ở của Tráng A B, cơ quan điều tra đã thu giữ 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Wave RS, không có biển kiểm soát, màu xanh vàng đen, số máy HC12E0667544, số khung RLHHC12209Y054203. Chiếc xe này xác minh là xe của Hà Công Tr, được Tr và N dùng làm phương tiện cùng nhau đi mua ma túy.

Cơ quan điều tra Công an huyện VHđã lập biên bản, niêm phong vật chứng; tạm giữ của Hà Công Tr 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, đồng thời dẫn giải Tr, N về Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện VHđể điều tra, xử lý.

Cùng ngày, Tại Cơ quan điều tra tiến hành cân tịnh 02 viên nén màu hồng thu giữ của Hà Công Tr và Lò Tiến N xác định được có khối lượng 0,2 gam, lấy 0,1 gam làm mẫu giám định ký hiệu TN.

Kết luận giám định số 399/KLMT ngày 26/3/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận: "Mẫu gửi giám định ký hiệu TN là chất ma túy; Loại chất Methamphetamine; Tổng khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,1 gam; Tổng khối lượng của chất ma túy thu giữ được là 0,2 gam.Loại chất Methamphetamine”

Quá trình điều tra, xác minh tại bản C T, có Tráng A B, sinh năm 1967, con trai là Tráng A S, sinh năm 2001. Kết quả nhận dạng, Hà Công Tr và Lò Tiến N cũng xác nhận B và S chính là những người thực hiện việc nhận tiền và bán ma túy cho Tr và N. Tuy nhiên, Cơ quan điều tra xác minh, hiện B và S không có mặt ở địa phương, chưa có điều kiện xác minh, không xử lý trong vụ án này.

Cáo trạng số 38/CT – VKS ngày 21/6/2018 của VKSND huyện VH, truy tố Hà Công Tr và Lò Tiến N về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 điều 249 BLHS. Tại phiên tòa, kiểm sát viên đề nghị HĐXX xem xét: Tuyên bố Hà Công Tr và Lò Tiến N phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy

* Áp dụng điểm c khoản 1 điều 249, điểm s khoản 1 điều 51, điều 17, 58 Bộ luật hình sự 2015, xử phạt: Hà Công Tr từ 12 đến 24 tháng tù.

* Áp dụng điểm c khoản 1 điều 249, điểm s khoản 1 điều 51, điểm h khoản 1 điều 52, điều 17, 58 Bộ luật hình sự 2015, xử phạt: Lò Tiến N từ 12 đến 24 tháng tù.

* Không phạt bổ sung đối với các bị cáo; áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự, điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

+ Tịch thu để tiêu huỷ: 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 0,1 gam Methamphetamine và vỏ gói niêm phong ban đầu;

+ Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Wave RS, không có biển kiểm soát, màu xanh vàng đen, số máy HC12E0667544, số khung RLHHC12209Y054203 đã qua sử dụng; 01 phong bì bên trong đựng vỏ gói niêm phong ban đầu và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia của Hà Công Tr.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Ngày 20/3/2018 Hà Công Tr và Lò Tiến N đến nhà Tráng A B, hỏi mua ma túy sử dụng. Sau khi được con trai B (tên là S) bán cho 03 viên Hồng phiến, sử dụng ngay tại nhà B 01 viên. Khi cả hai vừa sử dụng xong thì bị phát hiện bắt giữ.

Hành vi mua và tàng trữ trái phép 0,2 gam Methamphetamine (Ma túy tổng hợp) mục đích sử dụng của Hà Công Tr và Lò Tiến N đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, được quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 BLHS 2015. HĐXX xét thấy, việc khởi tố, truy tố của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát được thực hiện đúng trình tự, thủ tục tố tụng, có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Tính chất hành vi và vai trò của các bị cáo: Các bị cáo là đồng phạm trong vụ án, phạm tội nghiêm Tr, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma tuý, gây mất trật tự địa phương. Hà Công Tr là người khởi xướng, rủ rê, bỏ tiền và trực tiếp giao dịch mua ma túy. Lò Tiến N là người thực hành tích cực, chở Tr đi tìm mua ma túy. Trong vụ án này, Hà Công Tr là người có vai trò cao hơn Lò Tiến N. Lò Tiến N đã bị xử phạt tù về tội phạm ma túy, phạm tội trong khi chưa được xóa án tích, là tái phạm. Do vậy Cần tiếp tục xử phạt tù tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo, nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, nên đều được xem xét cho hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm s khoản 1 điều 51 BLHS

Về phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo không có tài sản có giá trị, sống phụ thuộc gia đình; nghiện ma tuý, không có khả năng thi hành, nên không áp dụng phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Vật chứng của vụ án: 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 0,1 gam Methamphetamine và vỏ gói niêm phong ban đầu là những vật bị cấm lưu hành hoặc không có giá trị sử dụng, cần tuyên tịch thu để tiêu hủy.

01 chiếc xe máy nhãn hiệu Wave RS, không có biển kiểm soát, màu xanh vàng đen, số máy HC12E0667544, số khung RLHHC12209Y054203 đã qua sử dụng; 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia và vỏ gói niêm phong ban đầu của Hà Công Tr là tài sản các bị cáo dùng làm phương tiện phạm tội. Do vậy, cần tuyên tịch thu sung ngân sách nhà nước.

Về nguồn gốc chất ma túy: Các bị cáo khai đã cùng nhau vào nhà của Tráng A B, sinh năm 1967, ở bản C T, xã L L, huyện VH, tỉnh Sơn La, hỏi mua và được B và con trai B tên là S bán cho 03 viên Hồng phiến. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh, B và con trai hiện không có mặt ở địa phương. Chưa có căn cứ điều tra, xác minh và xử lý trong vụ án này.

Các bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo Hà Công Tr và Lò Tiến N phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

1. Áp dụng điểm c khoản 1 điều 249, điểm s khoản 1 điều 51, điều 17, 58 BLHS 2015. Xử phạt: Hà Công Tr 20 (Hai mươi) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tình từ ngày tạm giam 20/3/2018.

2. Áp dụng điểm c khoản 1 điều 249, điểm s khoản 1 điều 51, điểm h khoản 1 điều 52, điều 17, 58 BLHS 2015.

- Xử phạt: Lò Tiến N 20 (Hai mươi) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tình từ ngày tạm giam 20/3/2018.

Không áp dụng phạt bổ sung đối với các bị cáo.

3. Về vật chứng: Áp dụng các điểm a, c khoản 1 điều 47 BLHS, điểm a, c khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

+ Tịch thu để tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 0,1 gam Methamphetamine và vỏ gói niêm phong ban đầu.

+ Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Wave RS, không có biển kiểm soát, màu xanh vàng đen, số máy HC12E0667544, số khung RLHHC12209Y054203; 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia và vỏ gói niêm phong ban đầu, đềuđã qua sử dụng của Hà Công Tr.

Toàn bộ Vật chứng theo biên bản giao vật chứng số: 72/BBVC ngày 01/8/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện VH

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5.Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- TAT

- VKS tỉnh, huyện

- CA huyện, CQ THAHS

- Sơ TP

- Trại Giam

- Bị cáo

- Lưu HS.

Nguyễn Đăng Quang

- Lưu VP Hội thẩm nhân dân Thẩm phán – chủ tọa

Hội thẩm nhân dân

Nguyễn Thị Lư

Nguyễn Đăng Quang

Mùi Văn Hoạt

Hướng dẫn sử dụng mẫu số 27-HS:

Mẫu bản án hình sự sơ thẩm kèm theo bản hướng dẫn này được soạn thảo theo tinh thần quy định tại các điều 254, 260 và 423 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Mẫu bản án hình sự sơ thẩm kèm theo hướng dẫn này được sử dụng cho tất cả các Tòa án khi xét xử sơ thẩm vụ án hình sự. Sau đây là những hướng dẫn cụ thể về việc sử dụng mẫu bản án hình sự sơ thẩm kèm theo:

(1) và (4) nếu là Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thì ghi tên Tòa án nhân dân quận (huyện, thị xã, thành phố) gì thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nào (ví dụ: Tòa án nhân dân huyện N Đàn, tỉnh Nghệ An); nếu là Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thì ghi tên Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (ví dụ: Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội); nếu là Tòa án quân sự khu vực thì ghi tên Tòa án quân sự khu vực gì thuộc quân khu, quân chủng nào; nếu là Tòa án quân sự quân khu, quân chủng thì ghi tên Tòa án quân sự quân khu, quân chủng (ví dụ: Tòa án quân sự Quân khu Thủ đô).

(2) ô thứ nhất ghi số Bản án, ô thứ hai ghi năm ra Bản án (ví dụ: 16/2017/HS-ST).

(3) ghi ngày, tháng, năm tuyên án không phân biệt vụ án được xét xử sơ thẩm và kết thúc trong một ngày hay được xét xử sơ thẩm trong nhiều ngày hoặc nghị án kéo dài.

(5) nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm ba người, thì chỉ ghi đầy đủ họ tên của

Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, bỏ dòng Thẩm phán..., đối với Hội thẩm nhân dân (quân nhân) chỉ ghi đầy đủ họ tên của hai Hội thẩm nhân dân (quân nhân); nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có năm người, thì ghi đầy đủ họ tên của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, họ tên của Thẩm phán, họ tên của cả ba Hội thẩm nhân dân (quân nhân). Cần chú ý không ghi chức vụ của Thẩm phán; đối với vụ án hình sự thông thường thì không ghi chức vụ, nghề nghiệp của Hội thẩm nhân dân (quân nhân); đối với vụ án hình sự có bị cáo là người dưới 18 tuổi thì ghi nghề nghiệp của Hội thẩm nhân dân (quân nhân). Nếu vụ án do Tòa án quân sự giải quyết thì không ghi Ông (Bà) mà ghi cấp bậc quân hàm.

(6)ghi đầy đủ họ tên của Thư ký phiên tòa và ghi rõ là Thư ký Tòa án hoặc Thẩm tra viên của Tòa án nào như hướng dẫn tại điểm (1).

(7) ghi tên Viện kiểm sát như hướng dẫn tại (1); ghi họ tên Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa.

(8) trường hợp vụ án được xét xử và kết thúc trong một ngày thì bỏ hai chữ Trong các (ví dụ: Ngày 15 tháng 7 năm 2017). Trường hợp vụ án được xét xử trong hai ngày thì ghi Trong các ngày (ví dụ: Trong các ngày 02, 03 tháng 3 năm 2017); nếu từ ba ngày trở lên mà liền nhau thì ghi Từ ngày đến ngày (ví dụ: Từ ngày 06 đến ngày 10 tháng 3 năm 2017); nếu từ ba ngày trở lên mà không liền nhau thì ghi Trong các ngày (ví dụ: Trong các ngày 07, 08 và ngày 15 tháng 3 năm 2017); nếu khác tháng mà liền nhau thì ghi từ ngày... tháng... đến ngày... tháng... (ví dụ: Từ ngày 31 tháng 05 đến ngày 02 tháng 6 năm 2017); nếu không liền nhau thì ghi các ngày của từng tháng (Ví dụ: Trong các ngày 30, 31 tháng 3 và các ngày 04, 05 tháng 4 năm 2017).

(9) nếu vụ án được xét xử tại trụ sở Tòa án thì ghi như hướng dẫn tại mục (1) (4). Nếu vụ án được xét xử lưu động thì ghi địa điểm nơi diễn ra phiên tòa.

(10) nếu xét xử kín thì thay cụm từ công khai bằng từ kín.

(11) và (12) ghi đầy đủ họ tên bị cáo và các bí danh, tên thường gọi khác (nếu có); nếu bị cáo là người dưới 18 tuổi phải ghi đầy đủ ngày, tháng, năm sinh tính đến ngày bị cáo thực hiện hành vi phạm tội (ví dụ: Đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 16 tuổi 8 tháng 15 ngày); nếu bị cáo trên 18 tuổi thì ghi ngày, tháng, năm sinh hoặc tuổi; ghi nơi đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú, nơi sinh sống của bị cáo. Đối với tiền sự thì chỉ ghi khi đã xác định đúng theo quy định của pháp luật lần bị xử lý đó tính đến ngày phạm tội chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý hành chính hoặc bị xử lý kỷ luật. Đối với tiền án thì chỉ ghi khi đã xác định đúng theo quy định của pháp luật lần bị kết án đó tính đến ngày phạm tội chưa được xoá án. Về nhân thânghi án tích, đã bị xử phạt vi phạm hành chính, đã xử lý kỷ luật cụ thể các lần đó và ghi rõ là các án tích, xử phạt vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật đó đã được xoá. Trường hợp bị cáo là pháp nhân thương mại thì ghi tên, địa chỉ trụ sở, tên người đại diện theo pháp luật, tiền án, tiền sự của pháp nhân thương mại và các thông tin cần thiết khác; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.

(13) ghi ngày bị cáo bị bắt, tạm giam; nếu trước đó bị cáo đã bị tạm giữ, bị bắt, tạm giam, thì ghi ngày bị tạm giữ, ngày bị bắt, tạm giam và ngày được cho tại ngoại; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.

(14) và (15) nếu bị cáo có người đại diện hợp pháp thì ghi rõ họ tên của bị cáo đó (ví dụ: Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Văn A). Sau chữ là ghi quan hệ như thế nào với bị cáo (ví dụ: là bố của bị cáo); nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.

(16) nếu có người bào chữa thì ghi đầy đủ họ tên của người bào chữa và họ tên của bị cáo được bào chữa; nếu người bào chữa là luật sư thì ghi luật sư của Văn phòng luật sư nào và thuộc Đoàn luật sư nào (ví dụ: Ông Trần B, Luật sư Văn phòng luật sư Vạn Xuân thuộc Đoàn luật sư tỉnh H bào chữa cho Nguyễn Văn C); nếu không phải là luật sư thì ghi nghề nghiệp, nơi công tác của người bào chữa (ví dụ: Bà Lê Thị M, bào chữa viên nhân dân công tác tại Hội luật gia tỉnh M bào chữa cho Nguyễn Văn D); nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.

(17), (18), (19), (20), (21), (22), (23) và (24) nếu có người nào tham gia tố tụng thì ghi đầy đủ họ tên, tuổi, nơi cư trú của người đó. Trường hợp bị hại là người bị xâm phạm về tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự và là người dưới 18 tuổi, thì phải ghi đầy đủ ngày, tháng, năm sinh của bị hại; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.

(25) nếu bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có người bảo vệ quyền lợi cho họ, thì ghi đầy đủ họ tên của họ theo thứ tự; nếu người bảo vệ quyền lợi của đương sự là luật sư thì ghi luật sư của Văn phòng luật sư nào và thuộc Đoàn luật sư nào; nếu không phải là luật sư thì ghi nghề nghiệp, nơi công tác của người bảo vệ quyền lợi cho đương sự; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi có mặt và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi vắng mặt.

(26) nếu có người tham gia tố tụng là người làm chứng thì ghi đầy đủ họ tên; nếu người tham gia tố tụng là người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật thì ghi đầy đủ họ tên, cơ quan công tác.

(27) trong phần này, ghi đầy đủ các nội dung được quy định tại điểm b và điểm c khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

(28) trong phần này, ghi đầy đủ các nội dung được quy định tại các điểm d, đ và e khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Trong phần này, các đoạn văn được đánh số thứ thự trong dấu [ ].

(29) tùy từng trường hợp mà ghi rõ căn cứ pháp luật để ra quyết định.

(30) trong phần này, ghi đầy đủ các nội dung được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

(31) phần cuối cùng của bản án, đối với bản án được thông qua tại phòng nghị án thì phải có đầy đủ chữ ký, ghi đầy đủ họ tên của các thành viên Hội đồng xét xử và đóng dấu (bản án này phải lưu vào hồ sơ vụ án); đối với bản án để gửi cho các bị cáo, các đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan và Viện kiểm sát theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự thì ghi như sau:

Cỡ chữ