vanban.org

Bản án 77/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Ứng Hòa, TP. Hà Nội Tuyên án 12/10/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn P phạm tội : Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Về xử lý vật chứng : Căn cứ khoản 1; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tịch thu tiêu huỷ vật chứng của vụ án là số Hêrôin sau giám định gửi lại, đựng trong 01 (một) phong bì niêm phong đề Công an … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn P phạm tội : Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ỨNG HÒA - TP HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 77/2018/HS-ST
Ngày 12/10/2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA - TP HÀ NỘI

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà : Ông Nguyễn Thành Trung

Các Hội thẩm nhân dân :

Bà Nguyễn Thị Vân, Cán bộ hưu trí huyện Ứng Hòa

Ông Đặng Viết Côi, Cán bộ hưu trí huyện Ứng Hòa

- Thư ký phiên toà : Bà Nguyễn Thị Kim Lành - Thư ký Toà án nhân dân huyện Ứng Hoà

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hoà tham gia phiên toà : Ông Đỗ Khắc Toán - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 10 năm 2018 tại Trụ sở toà án nhân dân huyện Ứng Hòa, TP Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số : 72/2018/TLST-HS ngày 17 tháng 8 năm 2018 đối với bị cáo : NGUYỄN VĂN P, sinh ngày 14/10/1977 tại thôn N, huyện K, Hà Nam; nơi cư trú : Thôn M, xã N, huyện K, tỉnh Hà Nam; trình độ học vấn : 7/12; nghề nghiệp : Lao động tự do; con ông : Nguyễn Tiến Ph, sinh năm 1944; con bà : Trương Thị V, sinh năm 1942; vợ : Nguyễn Thị L, sinh năm 1979; con : Có 2 con, lớn sinh năm 1999, nhỏ sinh năm 2010; tiền án, tiền sự : Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17/5/2018 đến ngày 26/5/2018 được thay thế biện pháp ngăn chặn và áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt tại phiên tòa.

Người đại diện hợp pháp cho bị cáo : Ông Nguyễn TiÕn Ph, sinh năm 1944; trú tại : thôn N, huyện K, Hà Nam (Bố bị cáo), có mặt.

Người làm chứng : Anh Đặng Văn C, sinh năm 1957; trú tại : Thôn T, thị trấn V, huyện U, TP Hà Nội, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN :

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau : Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 17/5/2018, Nguyễn Văn P góp 110.000đ (Một trăm mười nghìn đồng) cho bạn nghiện mới quen tên T và cùng T đi đến khu vực cổng Bệnh viện Đa khoa Vân Đình để tìm mua ma túy sử dụng chung; đến nơi Tâm đi mua, P đứng đợi. Khi Tâm đi mua được ma túy quay lại chỗ P và đưa cho P 01 vỏ bao thuốc lá bên trong có ma túy, P cất vào trong túi quần; sau đó P đưa cho T 5.000đ (Năm nghìn đồng) bảo đi mua “đồ” (ý là đi mua dụng cụ để sử dụng ma túy);T đi được khoảng 5 phút thì Phức bị lực lượng Công an thị trấn Vân Đình kiểm tra bắt quả tang và thu giữ vật chứng :

Vật chứng thu giữ : 01 (một) gói bên ngoài bọc bằng giấy, bên trong có bột màu trắng được niêm phong trong bì thư đề mẫu P1 vật chứng thu giữ của Nguyễn Văn P .

Cùng ngày, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Ứng Hòa ra Quyết định trưng cầu giám định số 103 đối với vật chứng thu giữ của Nguyễn Văn P tại phòng PC54 - Công an Thành phố Hà Nội. Tại bản Kết luận giám định số 4867/KLGĐ-PC54 ngày 25/5/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà nội xác định: “Bột màu trắng bên trong 01 gói giấy là ma túy loại Heroine, khối lượng 0,159 gam”.

Ngày 18/5/2018, Cơ quan CSĐT – Công an huyện Ứng Hòa đã ra Lệnh khám xét khẩn cấp nơi ở, đồ vật của Nguyễn Văn P. Kết quả không thu giữ được tài liệu, vật chứng có liên quan đến vụ án.

Với hành vi nêu trên, tại bản Cáo trạng số : 67/CT - VKS ngày 16/8/2018 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hoà truy đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn P về tội : “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên toà :

- Bị cáo thừa nhận hành vi đã góp tiền đưa cho T đi mua ma túy sử dụng chung; sau khi mua được ma túy thì bị bắt quả tang và bị thu số ma túy là vật chứng.

- Người làm chứng khai đã chứng kiến cơ quan Công an bắt quả tang bị cáo tàng trữ ma túy và giữ nguyên lời khai có trong hồ sơ.

- Đại diện VKS giữ nguyên quan điểm truy tố cả về tội danh nội dung cũng như điều luật, khoản áp dụng như trên, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm năm 2015, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P từ 18 tháng đến 24 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án được trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 17/5/2018 đến ngày 26/5/2018; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.Về xử lý vật chứng : Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy số ma túy sau giám định gửi trả lại (Tình trạng theo biên bản giao nhận giữa cơ quan Công an đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Ứng Hòa ngày 22/8/2018). Về án phí : Căn cứ Điều 135; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội : Buộc bị cáo Nguyễn Văn P phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn) đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

Căn cứ vào những chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, khách quan, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo, người làm chứng, người tham gia tố tụng khác .

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN :

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau :

Tại phiên toà bị cáo nhận tội như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát đã qui kết. Xét thấy lời nhận tội của bị cáo phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng đã thu giữ được, bản kết luận giám định, người làm chứng và các tài liệu khác đã được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận : Bị cáo Nguyễn Văn P là đối tượng nghiện chất ma tuý; để có ma túy sử dụng, trưa ngày 17/5/2018 Phức đã góp 110.000đ (Một trăm mười nghìn đồng) cho bạn nghiện mới quen tên Tâm để mua ma túy để cùng sử dụng. Khi T mua được ma túy cất trong vỏ bao thuốc lá đã đưa cho Phức, Phức cất trong túi quần đang mặc, còn Tâm đi mua dụng cụ sử dụng, thì P bị Công an kiểm tra bắt giữ. Kết quả giám định vật chứng trên là ma túy loại Heroin, khối lượng là 0,159 gam.

Bằng hành vi góp tiền để mua, cất giữ trái phép chất ma túy nêu trên nhằm mục đích sử dụng của Nguyễn Văn P. Đối chiếu với quy định của pháp luật thì bị cáo đã đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Vì vậy Viện trưởng viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hoà truy tố bị cáo với hành vi và điều, khoản, tội danh trong cáo trạng là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý và sử dụng chất ma tuý của Nhà nước, gây mất trật tự xã hội, là nguyên nhân phát sinh các tội phạm khác. Vì vậy cần phải áp dụng mức hình phạt tù nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo, phù hợp với tích chất, mức độ của hành vi phạm tội, đồng thời cũng để cho bị cáo có thời gian tu dưỡng, cai nghiện. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải; bố đẻ bị cáo là thương binh là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, khi quyết định hình phạt.

Hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, bị cáo là người nghiện chất ma tuý nên Toà không áp dụng hình phạt bổ sung (Phạt tiền) theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Đối với người mua ma túy cùng với P : Phức khai nhận là bạn nghiện mới quen, người này giới thiệu tên là Tâm, còn P không biết địa chỉ cụ thể ở đâu.Về người bán ma túy do T mua. Do vậy, Cơ quan điều tra không có đủ căn cứ xác minh làm rõ nên không có căn cứ để làm rõ xử lý.

Xử lý vật chứng : Số Hêrôin sau khi giám định niêm phong gửi trả lại đây là vật chứng của vụ án, cần tịch thu tiêu huỷ là phù hợp với điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về án phí, quyền kháng cáo : Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm - Theo Điều 135;136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phi và lệ phi ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331; 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH :

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn P phạm tội : Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt : Nguyễn Văn P 17 (Mười bẩy) tháng tù, thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/5/2018 đến ngày 26/5/2018

2. Về xử lý vật chứng : Căn cứ khoản 1; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tịch thu tiêu huỷ vật chứng của vụ án là số Hêrôin sau giám định gửi lại, đựng trong 01 (một) phong bì niêm phong đề Công an thành phố Hà Nội, đơn vị Công an huyện Ứng Hoà; mặt bên có chữ kỹ của giám định viên Nguyễn Hoàng Hùng và Nguyễn Văn P, dấu của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Ứng Hòa tại các mép niêm phong (Tình trạng, đặc điểm các vật chứng trên theo biên bản bàn giao, nhận vật chứng ngày 22/8/2018 giữa cơ quan công an đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Ứng Hoà quản lý).

3. Về án phí : Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội : Buộc bị cáo Nguyễn Văn P phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn) đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

4.Về quyền kháng cáo : Căn cứ các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, bị cáo, người đại diện được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ