- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Công T cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 104 Bộ luật hình sự năm 19…"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Công T.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; Điều 104 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 77/2018/HS-PT Ngày: 03/4/2018 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁNNHÂN DÂNTỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thu Hương
Các Thẩm phán:
Bà Hoàng Lan Phương
Bà Nguyễn Thị Chinh
- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Dung - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Lan - Kiểm sát viên.
Ngày03 tháng 4 năm 2018 tại trụ sởTòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 09/2018/TLPT-HS ngày 17 tháng 01 năm 2018 đối với bị cáo Lê Công T, do có kháng cáo củabị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 46/2017/HSST ngày 13 tháng 12 năm 2017 của Tòa ánnhân dân thành huyện T.
1.Bị cáo kháng cáo:Lê Công T, sinh ngày 14/8/1978; nơi ĐKNKTT và chỗ ở: thôn T, xã T , huyện T,Thanh Hóa; nghề nghiệp: làm ruộng; dân tộc: Kinh; trình độ văn hóa: 9/12; con ông Lê Công L (đã chết) và bà Hoàng Thị M; vợ Hà Thị Thu; có 03 con, lớn nhất 15 tuổi, nhỏ nhất 05 tuổi; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 17/8/2017.
2. Người bị hại: Bà Lê Thị C, sinh năm 1960. Địa chỉ: Thôn X, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
Bị cáo và người bị hại có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Cáo trạng và Bản án sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ ngày 25/5/2017, bà Lê Thị C cùng với con rể là Trịnh Văn X đến nhà Lê Công T (là em cùng cha khác mẹ của bà C) ở thôn T, xã T , huyện T,Thanh Hóa xin chụp lại di ảnh của bố đẻ và anh trai đưa về nhà thờ cúng. Tại đây, trong lúc ngồi nói chuyện ở gian phòng khách, bà C và T có lời qua tiếng lại. Do bực tức với bà C nên sẵn chiếc ấm pha trà bằng sứ đang cầm trên tay rót nước, T đập một cái trúng gò má bên phải của bà C làm cho bà C bị ngã xuống nền nhà. Sau khi bị đánh, bà C được đưa đi sơ cứu tại Trạm y tế xã T, sau đó chuyển đến Bệnh viện đa khoa huyện T và Bệnh viện đa khoa tỉnh Thanh Hóa điều trị.
Theo kết quả khám thương ban đầu tại biên bản xem xét dấu vết thân thể ngày 25/5/2017, thì bà Lê Thị C bị thương tích sau: 01 vết sưng tấy thâm đen tại gò má bên phải hình tròn, bán kính 4cm;01 vết sưng thâm đen cạnh cột sống thắt lưng bên phải kích thước (10x5)cm.
Kết luận giám định pháp y về thương tích số 292/2017/TTPY, ngày 03/8/2017 của Trung tâm pháp y tỉnh Thanh Hóa, kết luận: Hiện tại tỷ lệ tổn thương cơ thể của bà Lê Thị C do thương tích gây nên là 14%. Các chấn thương, vết thương phần mềm khác đã được điều trị. Hiện tại không để lại sẹo vết thương phần mềm, không có di chứng do chấn thương: 0 %.
Tại bản Kết luận giám định Pháp y bổ sung số 374/2017/TTPY, ngày 12/9/2017 của Trung tâm pháp y Thanh Hóa, xác địnhcơ chế hình thành thương tích của bà Lê Thị C như sau: Vết sưng tấy thâm đen tại gò má bên phải, hình tròn, bán kính 4cm là do tác động ngoại lực, tạo nên bởi vật tày, gây tổn thương phần mềm gò má bên phải và làm gãy xương cung tiếp gò má phải; vết sưng thâm đen cạnh cột sống thắt lưng bên phải là do tác động của ngoại lực, tạo nên bởi vật tày.
Quá trình điều tra, Lê Công T đã khai nhận hành vi dùng chiếc ấm trà bằng sứ đánh gây thương tích cho bà C và tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bà C số tiền 15.800.000đ.
Bản án số 46/2017/HSST ngày 13 tháng 12 năm 2017 của Tòa ánnhân dân huyện T :Tuyên bố bị cáo Lê Công T phạm tội “ Cố ý gây thương tích”.Áp dụng: Khoản 2 điều 104, điểm b, p khoản 1, khoản 2 điều 46, điều 42 và điều 33 BLHS năm 1999; Nghị quyết 41/2017/QH14; khoản 3 điều 7, khoản 2 điều 134BLHS 2015; điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự;khoản 1 điều 6, điểm a, khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án.Xử phạt: Lê Công T 27 (hai mươi bảy) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngàybắt đi thi hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 19/12/2017, bị cáo Lê Công T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt vàxin hưởng án treo.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tại phiên tòa: Mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo là có căn cứ, bị cáo kháng cáo không có tình tiết gì mới, tại phiên tòa bị hại đề nghị xử lý nghiêm đối với bị cáo. Đề nghị HĐXX không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 BLTTHS 2015 giữ nguyên bản án sơ thẩm phần hình phạt đối với Lê Công Tụ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
. Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có căn cứ kết luận: Do mâu thuẫn gia đình nên khoảng 14 giờ ngày 25/5/2017, tại nhà của Lê Công T ở thôn T, xã T , huyện T,Thanh Hóa , Lê Công T đã dùng chiếc ấm pha trà bằng sứ đang cầm rót nước đập một cái trúng gò má bên phải của bà Lê Thị C làm bà C bị thương. Cơ quan giám định pháp y về thương tích kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể của bà Lê Thị C do thương tích gây nên là 14%.
Với hành vi trên, Tßa ¸n cÊp s¬ thÈm tuyên bố Lê Công T phạmtội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 2 Điều 104 của Bộ luật hình sự là chính xác.
Tại phiên tòa phúc thẩm, Lê Công T thừa nhận hành vi gây thương tích cho bà C, đồng ý với tội danh của bản án sơ thẩm, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.
. Xét kháng cáo xin giảm hình phạt và xin được hưởng án treo của bị cáo Lê Công T:
Thương tích bị cáo gây ra làm tổn hại 14% sức khỏe của bị hại, tuy bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ do khai báo thành khẩn, tự nguyện bồi thường thiệt hại, bố mẹ đẻ là người có công với cách mạng, bị cáo đang thờ cúng liệt sỹ, nhưng hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bản án sơ thẩm xử phạt bị cáo 27 tháng tù là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo không có tình tiết gì mới, bị hại đề nghị Hội đồng xét xử xử lý nghiêm khắc đối với hành vi phạm tội của bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin được hưởng án treo của bị cáo, và giữ nguyên bản án sơ thẩm theo đề nghị của Viện kiểm sát.
. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. [4]. Án phí phúc thẩm: Lê Công T kháng cáo không được chấp nhận nên phải chịu án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015. Điểm a khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Công T.
Giữ nguyên bản án số 46/2017/HSST ngày 13 tháng 12 năm 2017 của Tòa ánnhân dân thành huyện T về hình phạt đối với bị cáo Lê Công T. Áp dụng: Khoản 2Điều 104; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 33 BLHS năm 1999.Nghị quyết 41/2017/QH14. Khoản 3 Điều 7; khoản 2 Điều 134BLHS 2015.
Xử phạt: Lê Công T 27 (hai mươi bảy) tháng tù về tội “ Cố ý gây thương tích”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngàybắt thi hành án.
2. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
3. Về án phí: Lê Công T phải nộp 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm.
4. Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND cấp cao tạ i Hà Nộ i; - VKSND tỉ nh Thanh Hó a; - TAND huyện T - Chi cụ c THADS huyện T - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ á n; Lưu Tò a HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Lê Thu Hƣơng |