- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Khánh L và Nguyễn Hoàng T"
- Tòa quyết gì? 39, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÕA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN CỘNG HÕA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 767/2022/HNGĐ-ST Ngày: 21 - 6 - 2022 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÕA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÕA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Phụng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Văn Chính
2. Ông Huỳnh Văn Sơn
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hà Kim Thông - Cán bộ Tòa án nhân dân
huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngày 21 tháng 6 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn,
Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 803/2021/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 12 năm 2021 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 92/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 4 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 90/2022/QĐST-HNGĐ ngày 24 tháng 5 năm 2022, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Khánh L, sinh năm 1992 (có đơn xin vắng
mặt).
Địa chỉ: 39/9A ấp T, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ liên lạc: 57/7E ấp T, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Hoàng T, sinh năm 1988 (vắng mặt).
Địa chỉ: 39/9A ấp T, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 05/11/2021, bản tự khai ngày 24/02/2022 và
trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Khánh L trình bày:
Bà và ông Nguyễn Hoàng T tự nguyện tổ chức đám cưới, có đăng ký kết
hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh năm 2010.
Sau khi kết hôn, vợ chồng về chung sống tại gia đình bên chồng. Năm
2017 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do ông T không lo làm ăn, vợ chồng không hợp nhau. Vợ chồng đã ly thân từ tháng 3 năm 2021 đến nay. Nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, cuộc hôn nhân của bà chỉ còn là hình thức nên bà có nguyện vọng được ly hôn với ông T.
- Về con chung: có 01 trẻ tên Nguyễn Hoàng Gia T, sinh ngày 30/6/2010.
Bà L yêu cầu được trực tiếp nuôi trẻ T, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: không có.
- Nợ chung: không có.
Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn đã tống đạt, niêm yết thông báo thụ lý,
giấy triệu tập, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa hợp lệ nhưng bị đơn đều vắng mặt không lý do. Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÕA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại
phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Quan hệ tranh
chấp giữa bà Nguyễn Khánh L và ông Nguyễn Hoàng T là quan hệ tranh chấp ly hôn và bị đơn cư trú tại huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà L và ông T tự nguyện tiến đến hôn nhân và
căn cứ giấy chứng nhận kết hôn số 75 Quyển số 01/2010 ngày 26/4/2010 do Ủy ban nhân dân xã T, huyện H cấp thì đủ cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa bà L và ông T là hôn nhân hợp pháp.
[3] Xét yêu cầu ly hôn của bà L: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng
như tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bà L vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn với ông T. Bà L khai sau khi cưới vợ chồng sống hạnh phúc thời gian đầu nhưng sau đó vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không hợp nhau, ông T không lo làm ăn. Vợ chồng bà đã sống ly thân từ tháng 3 năm 2021 đến nay. Hội đồng xét thấy, từ khi thụ lý vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập và thông báo về phiên hòa giải để vợ chồng trở về đoàn tụ với nhau nhưng ông T vẫn cố tình tránh né không đến Tòa án, không trình bày ý kiến, yêu cầu của mình. Điều này chứng tỏ ông T không có thiện chí để vợ chồng đoàn tụ, hàn gắn trở về sống chung với nhau và hai người đã không chung sống hơn 01 năm, một quãng thời gian dài mà hai bên không có biện pháp hàn gắn, mỗi người đã có cuộc sống riêng. Nhận thấy đời sống chung vợ chồng của bà L và ông T đang ở trong tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên không thể kéo dài. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình để chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn.
[4] Về con chung, cấp dưỡng nuôi con: Quá trình chung sống, bà L và
ông T có 01 con chung tên Nguyễn Hoàng Gia T, sinh ngày 30/6/2010. Bà L yêu cầu được trực tiếp nuôi trẻ T không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con; hiện nay trẻ T đang sinh sống với bà L; đồng thời trẻ T cũng có nguyện vọng sống chung với bà L. Do đó có cơ sở chấp nhận yêu cầu được trực tiếp nuôi trẻ T của bà L. Về cấp dưỡng nuôi con bà L không yêu cầu nên không xem xét.
Về tài sản chung: Đương sự khai không có.
Về nợ chung: Đương sự khai không có.
[5] Về án phí:
Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, bà
Nguyễn Khánh L phải chịu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều
39, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Khánh L
được ly hôn với ông Nguyễn Hoàng T.
2. Về con chung: Giao trẻ Nguyễn Hoàng Gia T, sinh ngày 30/6/2010 cho
bà Nguyễn Khánh L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, tạm ngừng tiền cấp dưỡng nuôi con đối với ông Nguyễn Hoàng T cho đến khi có yêu cầu của bà Nguyễn Khánh L.
Vì lợi ích của con chung, sau khi ly hôn bên không trực tiếp nuôi con có
quyền qua lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến quyền này. Khi cần thiết có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết thay đổi người nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Không có.
4. Về án phí:
Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, bà Nguyễn Khánh L phải chịu là
300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng mà bà L đã nộp theo biên lai số 0038538 ngày 29 tháng 12 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà L đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo
trong hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND Thành phố Hồ Chí Minh; - VKSND huyện Hóc Môn; - Chi cục THADS huyện Hóc Môn; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Kim Phụng |