vanban.org

Bản án 766/2017/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội và Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÓC MÔN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 766/2017/DS-ST
Ngày: 25/9/2017
“V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Chung Cảnh Long

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Tịnh Tâm

2. Bà Nguyễn Thị Kim Liên

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc môn, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Tuấn – Kiểm sát viên.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Võ Công Danh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Tuấn – Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 184/2017/TLST-DS ngày 03 tháng 4 năm 2017 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 135/2017/QĐXXST-DS ngày 15 tháng 8 năm 2017 và Quyết định hoãn phiên tòa số 269/2017/QĐST-DS ngày 05/9/2017 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Công ty trách nhiệm hữu hạn Một thành viên tài chính A.

Địa chỉ: Tầng 23, Tòa nhà Saigon Trade Center, 37 Tôn Đức C, phường B, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Trịnh Lâm Khả Th, sinh năm: 1974 (có mặt)

(Văn bản ủy quyền số 24/2017/UQTT ngày 09/3/2017)

Bị đơn: Bà Lê Thị Ngọc T, sinh năm: 1966 (vắng mặt)

Địa chỉ: 48/1A khu phố G, thị trấn H, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí

Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, lời khai tại Tòa án và tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền nguyên đơn Công ty trách nhiệm hữu hạn Một thành viên tài chính A là ông Trịnh Lâm Khả Th trình bày:

Ngày 04/11/2013, bà Lê Thị Ngọc T có ký hợp đồng tín dụng số 10526080 với Công ty trách nhiệm hữu hạn Một thành viên tài chính A (sau đây gọi tắt là Công ty). Theo đó, bà T vay của Công ty số tiền 97.000.000 đồng, lãi suất 31.5%/năm, thời vay là 48 tháng theo hình hình thức trả góp hàng tháng, trong tháng đầu trả 3.323.200 đồng, từ tháng thứ 2 đến tháng thứ 47 mỗi tháng trả 3.577.800 đồng, tháng thứ 48 trả 3.574.300 đồng; thời hạn trả kỳ đầu tiên là ngày 01/12/2013; ngày giải ngân là 04/11/2013. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, bà T trả được số tiền 17.860.450 đồng, gồm tiền gốc là 5.435.500 đồng, lãi là 12.424.950 đồng. Kể từ ngày 30/9/2014, bà T không thanh toán bất kỳ khoản nào mặc dù Công ty đã nhiều lần nhắc nhở thanh toán nợ.

Nay, Công ty TNHH một thành viên tài chính A yêu cầu cá nhân bà Lê Thị Ngọc T trả số tiền nợ gốc còn lại là 91.564.500 đồng, không yêu cầu bà T trả lãi, trả làm một lần ngay khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

Trường hợp, bà T không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ khi Công ty có đơn yêu cầu thi hành án thì buộc bà T trả tiền lãi chậm trả tương ứng với số tiền chưa thi hành án.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành triệu tập bà T hợp lệ đến lần thứ hai nhưng bà T vẫn vắng mặt không có lý do nên vụ án không tiến hành hòa giải được và vụ án được đưa ra xét xử công khai.

Phát biểu của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử: Thẩm phán thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn đúng quy định của pháp luật. Việc cấp, tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Xác định đúng người tham gia tố tụng. Quyết định đưa vụ án ra xét xử đúng quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử thực hiện đúng quyền hạn theo quy định của pháp luật.

- Về chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Đương sự thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng quy định pháp luật, tuân theo nội quy phiên tòa. Đương sự có đầy đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi tố tụng dân sự.

- Về giải quyết vụ án: Đại diện Viện kiểm át đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

Về áp dụng pháp luật: Giao dịch dân sự giữa Công ty và bà T đang thực hiện thì phát sinh tranh chấp, có nội dung và hình thức phù hợp với quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 nên căn cứ vào Điều 688 Bộ luật dân sự năm 2015, Tòa án áp dụng quy định của Bộ luật này để giải quyết vụ án.

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Xét đơn khởi kiện của Công ty trách nhiệm hữu hạn Một thành viên tài chính A, Hội đồng xét xử nhận thấy đây là vụ án tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự và bị đơn cư trú tại huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn theo điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về tố tụng : Trong quá trình giải quyết vụ án,Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn đã tiến hành thủ tục tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ đối với bà T nhưng bà T vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Xét yêu cầu của đương sự:

Xét Hợp đồng tín dụng số 10526080 ngày 04/11/2013 của bà Lê Thị Ngọc T vay Công ty trách nhiệm hữu hạn Một thành viên tài chính A số tiền 97.000.000 đồng, lãi suất 31.5%/năm, thời vay là 48 tháng theo hình hình thức trả góp hàng tháng, trong tháng đầu trả 3.323.200 đồng, từ tháng thứ 2 đến tháng thứ 47 mỗi tháng trả 3.577.800 đồng, tháng thứ 48 trả 3.574.300 đồng; thời hạn trả kỳ đầu tiên là ngày 01/12/2013; ngày giải ngân là 04/11/2013. Tổng số tiền bà T phải trả khi hết hợp đồng là 223.462.337 đồng. Sau khi nhận đủ số tiền vay, bà T trả được 17.860.450 đồng, gồm tiền gốc là 5.435.500 đồng, lãi là 12.424.950 đồng. Kể từ ngày 30/9/2014, bà T không thanh toán bất kỳ khoản nào mặc dù Công ty đã nhiều lần nhắc nhở thanh toán nợ. Căn cứ vào các chữ ký, Bảng liệt kê kế hoạch trả nợ, Hợp đồng tín dụng cá nhân số 10526080 ngày 04/11/2013; Giấy nhận nợ ngày 04/11/2013, Công ty đã nhiều lần nhắc nhở bà T trả nợ và lãi phát sinh nhưng bà T vẫn không thực hiện việc trả nợ. Các tình tiết trên, Tòa án đã thông báo đến cho bà T nhưng bà Tuyết vẫn không có ý kiến phản hồi nên Tòa án căn cứ vào Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xác định các tình tiết trên là sự thật.

Xét trong quá trình thực hiện hợp đồng nêu trên, bà T thanh toán được số tiền 17.860.450 đồng, gồm tiền gốc là 5.435.500 đồng, lãi là 12.424.950 đồng. Kể từ ngày 30/9/2014, bà T không thanh toán bất kỳ khoản nào mặc dù Công ty nhắc nhở là vi phạm hợp đồng mà hai bên đã ký kết thỏa thuận theo quy định tại Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015 và Luật các tổ chức tín dụng năm 2010. Do đó, bà T phải có nghĩa vụ thanh toán số tiền gốc và lãi phát sinh. Tuy nhiên, Công ty chỉ yêu cầu bà T trả số nợ gốc còn lại là 91.564.500 đồng, không yêu cầu bà T trả lãi. Trường hợp bà T không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ khi có đơn yêu cầu thi hành án của Công ty thì buộc bà T trả tiền lãi phát sinh do chậm trả tương ứng với số tiền chưa thi hành án theo yêu cầu của Công ty là phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Án phí dân sự sơ thẩm: Bà T phải nộp là 91.564.500 đồng x 5% = 4.578.425 đồng;

Công ty trách nhiệm hữu hạn Một thành viên tài chính A không phải chịu án phí, hoàn tiền tạm ứng án phí cho Công ty trách nhiệm hữu hạn Một thành viên tài chính A.

Bởi các lẽ nêu trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng:

- Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Điều 463; Điều 466; Điều 468; Điều 470 Bộ Luật dân sự năm 2015;

- Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

- Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội và Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn

Buộc bà Lê Thị Ngọc T trả cho Công ty trách nhiệm hữu hạn Một thành viên tài chính A số tiền là 91.564.500 đồng đồng (chín mươi mốt triệu năm trăm sáu mươi bốn nghìn năm trăm đồng); việc trả nợ thực hiện một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật. Việc giao nhận tiền thực hiện tại Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của Công ty trách nhiệm hữu hạn Một thành viên tài chính A cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bà Lê Thị Ngọc T còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

2. Án phí dân sự sơ thẩm:

- Bà Lê Thị Ngọc T phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 4.578.425 đồng (bốn triệu năm trăm bảy mươi tám nghìn bốn trăm hai mươi lăm đồng).

- Hoàn tiền tạm ứng án phí 2.289.113 đồng (hai triệu hai trăm tám mươi chín nghìn một trăm mười ba đồng) cho Công ty trách nhiệm hữu hạn Một thành viên tài chính A theo biên lai thu tiền số AA/2016/0030512 ngày 03/4/2017 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

4. Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ tuyên án. Trường hợp vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày tống đạt được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ