vanban.org

Bản án 764/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lại Xuân L.

Về quan hệ hôn nhân: Anh Lại Xuân L được ly hôn với chị Lưu Thị Hồng N. Về nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con chung: Có một con chung tên: Lại Lưu Hoài S, sinh ngày 07/01/2010.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Anh Lại Xuân L khởi kiện ly hôn chị Lưu Thị Hồng N"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lại Xuân L.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật Hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13; Bộ luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

N N N N

N

ỘNG

XÃ Ộ

Ủ NG Ĩ V Ệ N M

N

M N

Độc lập - ự do - ạnh phúc Bản án số: 764/2020/HNGĐ-ST

Ngày: 25/8/2020 V/v : Tranh chấp ly hôn giữa anh L

và chị N

NHÂN DANH

N Ớ ỘNG

XÃ Ộ

Ủ NG Ĩ V Ệ N M

N N N N

N

N

M N

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Duy Minh Chính

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Năm

2. Ông Đoàn Văn Rỹ

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Ngọc Tuyền – Thư ký của Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đ i di n Vi n ki m sát nh n d n Qu n , Thành ph Hồ Chí Minh tham gia phi n t a: Bà Hoàng Thị Vân – Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 8 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 503/2020/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 6 năm 2020, về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 125/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 21/7/2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 91/2020/QĐST-HNGĐ ngày 06/8/2020, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Lại Xuân L; Sinh năm 1984;

Nơi đăng ký thường trú: Số 247/1 đường A, Phường B, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh;

Nơi cư trú: Số 523/18 đường E, Phường F, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh;

- đơn: Bà Lưu Thị Hồng N; Sinh năm 1987;

Nơi đăng ký thường trú: Số 247/1 đường A, Phường B, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh;

Nơi cư trú: Số 523/18 đường E, Phường F, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh;

(Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa)

NỘ

NG VỤ N:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 26/5/2020 cùng các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ, nguyên đơn anh Lại Xuân L trình bày:

Anh L và chị Lưu Thị Hồng N chung sống có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường K, Quận L, Thành phố Hồ Chí Minh, theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 74, quyển số 01, đăng ký ngày 22/4/2008.

Trong thời gian chung sống vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do giữa anh L và chị N bất đồng quan điểm sống, bất đồng về suy nghĩ và cách giải quyết các vấn đề trong cuộc sống vợ chồng. Mặc dù đã nhiều lần tự hoà giải, hàn gắn nhưng mâu thuẫn gia đình ngày càng trầm trọng hơn, giữa vợ chồng không còn tiếng nói chung, không chia sẻ được các vấn đề trong cuộc sống gia đình. Do đó, anh L nộp đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh L được ly hôn chị N.

Về con chung: Có một con chung tên Lại Lưu Hoài S, sinh ngày 07/01/2010.

Anh L có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con chung Hoài S sau khi ly hôn. Anh L không yêu cầu chị N cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Anh L tự xác định giữa anh L và chị N không có tài sản chung nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về nợ chung: Anh L tự xác định giữa anh L và chị N không có nợ chung nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

Bị đơn chị Lưu Thị Hồng N đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt nên Tòa án không ghi được lời khai, không tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án và xét xử, Tòa án đã chấp hành đúng các qui định của pháp luật về tố tụng dân sự, về thời hạn giải quyết vụ án đảm bảo theo quy định của pháp luật, nguyên đơn chấp hành đúng pháp luật, bị đơn không thực hiện đúng các quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lại Xuân L.

N N ĐỊN Ủ

N:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, lời phát biểu ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Chị Lưu Thị Hồng N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 để hòa giải mà vẫn cố tình vắng mặt. Do vậy, theo quy định tại Điều 207 của Bộ Luật tố tụng dân sự, vụ án không thể tiến hành hòa giải được.

Chị N đã được tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa, Giấy triệu tập dự phiên tòa xét xử đến lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt đối với chị N theo quy định tại Khoản 2 Điều 227 và Khoản 3 Điều 228 của Bộ Luật tố tụng dân sự.

Nguyên đơn anh Lại Xuân L có đơn đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết vắng mặt. Căn cứ vào Khoản 1 Điều 228 Bộ Luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Xét đơn khởi kiện của anh Lại Xuân L thì đây là tranh chấp ly hôn theo yêu cầu một bên, do bị đơn là chị Lưu Thị Hồng N hiện đang cư trú tại Quận 8 nên vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 8 theo quy định tại các Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ Luật tố tụng dân sự.

[3] Về các yêu cầu của đương sự:

Anh Lại Xuân L và chị Lưu Thị Hồng N chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường K, Quận L, Thành phố Hồ Chí Minh, theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 74, quyển số 01, đăng ký ngày 22/4/2008, nên xét đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp phù hợp với Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình.

[3.1] Xét yêu cầu ly hôn của anh L, anh L trình bày trong thời gian chung sống vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do giữa anh L và chị N bất đồng về quan điểm sống, thường xuyên gây tranh cãi. Dù anh L đã cố gắng hòa giải nhưng mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, vợ chồng không còn sự chia sẻ và tôn trọng nhau, cuộc sống gia đình không có hạnh phúc. Tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không còn đạt được nên anh L yêu cầu được ly hôn. Căn cứ Điều 51 Luật Hôn nhân và Gia đình, yêu cầu của anh L là có căn cứ cần giải quyết.

Xét thấy chị N đã được Tòa án triệu tập nhiều lần đến Tòa để tạo điều kiện cho hai bên hòa giải đoàn tụ gia đình nhưng chị N vẫn vắng mặt và cũng không có mặt tại phiên tòa xét xử, điều này thể hiện chị N không còn tha thiết đến việc hàn gắn hạnh phúc gia đình, tình cảm vợ chồng giữa anh L và chị N không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã phát sinh trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không còn đạt được, nên yêu cầu ly hôn của anh L là có căn cứ cần chấp nhận vì phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.

[3.2] Về con chung và cấp dưỡng nuôi con chung: Có một con chung tên: Lại Lưu Hoài S, sinh ngày 07/01/2010.

Anh L có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con chung Hoài S sau khi ly hôn. Anh L không yêu cầu chị N cấp dưỡng nuôi con chung.

Ngày 16/7/2020, anh L có đơn tường trình nộp cho Toà án thể hiện về điều kiện chăm sóc, nuôi dạy con kèm theo các tài liệu chứng minh về nơi cư trú ổn định, việc làm và tình hình tài chính của anh L.

Ngày 16/7/2020, qua việc lấy lời khai trẻ Hoài Bảo đã thể hiện nguyện vọng muốn được sống chung với anh L.

Xét yêu cầu của anh L, ý kiến của cháu Hoài S là phù hợp với Điều 81, 82 Luật Hôn nhân và Gia đình mặt khác cũng phù hợp với nguyện vọng của con chung và đảm bảo quyền lợi của con nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của anh L, giao con chung Hoài S cho anh L trực tiếp nuôi dưỡng sau khi ly hôn, ghi nhận việc anh L không yêu cầu chị N cấp dưỡng nuôi con chung.

[3.3] Về tài sản chung và nợ chung: Anh L tự khai giữa anh L và chị N không có tài sản chung và không nợ gì của ai nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tuy nhiên, do chưa có ý kiến của chị N về các vấn đề này nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết, nếu sau này có tranh chấp, các bên có quyền khởi kiện yêu cầu giải quyết bằng một vụ án khác.

[4] Về án phí: Căn cứ vào Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án anh L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên,

YẾ ĐỊN :

Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 207, Khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự số 92/2015/QH13;

Áp dụng:

- Các Điều 8, 9, 51, 56, 57, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình số 52/2014/QH13;

- Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lại Xuân L.

1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Lại Xuân L được ly hôn với chị Lưu Thị Hồng N.

2. Về nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con chung: Có một con chung tên: Lại Lưu Hoài S, sinh ngày 07/01/2010.

Giao con chung Lại Lưu Hoài S cho anh Lại Xuân L trực tiếp nuôi dưỡng sau khi ly hôn. Ghi nhận việc anh L không yêu cầu chị Lưu Thị Hồng N cấp dưỡng nuôi con chung.

Chị N có quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được quyền cản trở.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét giải quyết. Trường hợp có tranh chấp, các bên có quyền khởi kiện yêu cầu giải quyết bằng một vụ án khác.

4. Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), anh Lại Xuân L phải chịu nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0043719 ngày 03/6/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh. Anh L đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm. Thi hành tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

5. Về quyền kháng cáo: Anh L, chị N có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự; Người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo các Điều 6, 7, 7a, 7b, và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014;

Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014./.

M Ộ Đ NG X X

M Nơi nh n:

M

N – Ủ

N

- Các đương sự;

(Đã ký)

- Chi cục THADS Q.8;

n

Minh h nh

- UBND nơi đăng ký kết hôn;

- VKSND Q.8;

- TAND TP.HCM;

- Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

Cỡ chữ