vanban.org

Bản án 76

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Lê Văn D tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2…"
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

T

N NH N D N

C NG H

H I CHỦ NGHĨ VI T N M

TH

L

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH B NH TH N Bản án số: 76/2022/HSST Ngày: 21/9/2022

NHÂN DANH

N C C NG HO

H I CHỦ NGHĨ VI T N M

TO N NH N D N TH

L, TỈNH B NH TH N

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Th m phán - Ch to phiên toà: Bà Từ Quốc Thái Bình

Các H i th m nhân dân: 1. Ông Nguyễn Thanh Hoàng

2. Ông Phan Vũ Anh Kiệt

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Công Thịnh - Thư ký Toà án nhân dân thị xã L, tỉnh Bình Thuận.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã L, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Ông Bùi Văn Đông - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 9 năm 2022, tại điểm cầu trung tâm Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã L, tỉnh Bình Thuận và điểm cầu thành phần tại Nhà tạm giữ Công an thị xã L, xét xử sơ thẩm công khai (bằng hình thức trực tuyến) vụ án hình sự thụ lý số: 68/2022/TLST-HS ngày 25 tháng 8 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 74/2022/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 9 năm 2022, đối với bị cáo:

LÊ VĂN D (Tên gọi khác: M); Sinh năm: 1993; Nơi sinh: Bình Thuận; Nơi cư trú: Khu phố 10, phường B, thị xã L, tỉnh Bình Thuận; Chổ ở hiện nay: Khu phố 7, phường T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận; Trình độ học vấn: 6/12; Nghề nghiệp: Thợ sắt, làm biển; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật; Con ông: Không rõ và bà Lê Thị X, sinh năm: 1972; Vợ con: Chưa có; Tiền án - Tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt ngày 25/5/2022, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã L. (Bị cáo có mặt tại điểm cầu thành phần tham gia phiên tòa).

* Người tham gia tố tụng khác:

Đồng chí Bùi Minh Vũ - Cán bộ, Đội thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp Công an thị xã L, tỉnh Bình Thuận. (Có mặt tại điểm cầu thành phần).

Đồng chí Lê Phú Cẩn - Chuyên viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã L, tỉnh Bình Thuận. (Có mặt tại điểm cầu thành phần).

N I D NG VỤ N:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến t i phiên tòa, n i dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ ngày 23/5/2022, bị cáo Lê Văn D xuống khu vực xóm Sình, thuộc phường B, thị xã L gặp và mua của một nam thanh niên khoảng 30 tuổi (không rõ nhân thân lai lịch) 500.000 đồng ma túy đá để sử dụng dần. Đến khoảng 13 giờ ngày 25/5/2022, Nguyễn Minh H, sinh năm: 1995, trú: Khu phố 8, phường T, thị xã L nhắn tin qua ứng dụng Zalo cho Lê Văn D hỏi mua 200.000 đồng ma túy đá thì D đồng ý và hẹn H đến nhà của D ở khu phố 7, phường T, thị xã L để giao nhận ma túy. Sau đó, H đến trước cổng nhà của D đứng chờ thì D từ trong nhà ra gặp H, H đưa cho D 200.000 đồng, D cầm tiền bỏ vào túi quần phía trước bên phải rồi để đoạn ống nhựa màu trắng chứa ma túy đá lên trên thanh sắt nằm ngang trên cánh cổng, H cầm lấy đoạn ma túy bỏ vào túi quần phía trước bên trái chuẩn bị ra về, thì bị Đội Cảnh sát Kinh tế - Ma túy Công an thị xã L phối hợp với Công an phường T bắt quả tang. Tang vật thu giữ gồm: thu giữ trong túi quần phía trước bên phải của Dậu có 01 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng; D khai nhận tờ tiền 200.000 đồng là tiền vừa bán ma túy cho H có được. Thu giữ trong túi quần phía trước bên trái của H có 01 đoạn ống nhựa màu trắng, hàn kín hai đầu, kích thước (1 x 2,6)cm, bên trong chứa các hạt tinh thể màu trắng, dạng rắn; Hùng khai nhận đây là tép ma túy vừa mua được của D. Ngoài ra, Công an còn thu giữ của D 01 điện thoại di động hiệu Oppo, màu xanh đen; thu giữ của H 01 điện thoại đi động hiệu Samsung, màu trắng. Sau đó, Công an tiến hành khám xét khẩn cấp tại chỗ ở của Lê Văn D, tiếp tục thu giữ 01 ống thủy tinh cong dài 12cm của D, D khai nhận đây là dụng cụ sử dụng ma túy đá.

Tại bản Kết luận giám định số 547/KL-KTHS ngày 31/5/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận kết luận: Mẫu M gửi giám định có khối lượng 0,0534 gam; là Methamphetamine.

Về vật chứng vụ án: Đoạn ống nhựa và 0,0292 gam mẫu M còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 547 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận; 01 ống thuỷ tinh cong, chiều dài 12cm; 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu xanh đen; tiền ngân hàng nhà nước Việt Nam, gồm 01 tờ mệnh giá 200.000 đồng, đã được Cơ quan CSĐT Công an thị xã L chuyển sang Chi cục Thi hành án dân sự thị xã L để xử lý.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu trắng thu giữ của Nguyễn Minh H. Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an thị xã L đã trả lại cho anh Hùng vào ngày 13/7/2022.

Tại bản cáo trạng số: 78/CT-VKSLG-HS ngày 24/8/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã L truy tố bị cáo Lê Văn D, về tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý" theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Lê Văn D và đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Lê Văn D, phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý".

- Áp dụng: Khoản 1 Điều 251; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

- Phạt bị cáo Lê Văn D, mức án từ 30 đến 36 tháng tù.

* Về biện pháp tư pháp: Áp dụng: khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Tuyên: Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong, còn nguyên vẹn số: 547 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận; 01 ống thuỷ tinh cong, chiều dài 12cm.

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng và 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu xanh đen.

- Tại phiên tòa, bị cáo Lê Văn D khai nhận như đã khai tại cơ quan điều tra và thừa nhận cáo trạng của VKSND thị xã L truy tố là hoàn toàn đúng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện.

- Bị cáo Lê Văn D không có ý kiến cũng như tranh luận gì đối với quan điểm của đại diện VKSND thị xã L.

- Lời nói sau cùng của bị cáo Lê Văn D: Bị cáo thấy được hành vi của mình là sai, vi phạm pháp luật, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NH N Đ NH CỦ T

N:

Trên cơ sở n i dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng t i phiên tòa, H i đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã L, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thị xã L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo cũng như người tham gia tố tụng khác, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên toà, bị cáo Lê Văn D thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã L truy tố. Xét, lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên toà, đủ căn cứ để kết luận: Vào lúc 14 giờ 10 phút ngày 25/5/2022, tại khu phố 7, phường T, thị xã L, bị cáo Lê Văn D có hành vi bán trái phép 01 tép ma tuý đá, có đặc điểm: 01 đoạn ống nhựa màu trắng, được hàn kín 02 đầu, kích thước (1 x 2,6) cm, bên trong có chứa tinh thể màu trắng, dạng rắn, cho Nguyễn Minh H với giá 200.000 đồng, thì bị Đội cảnh sát kinh tế - ma tuý Công an thị xã L phối hợp với Công an phường T phát hiện, bắt quả tang thu giữ cùng tang vật.

Tại bản Kết luận giám định số 547/KL-KTHS ngày 31/5/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận kết luận: Mẫu M gửi giám định có khối lượng 0,0534 gam; là Methamphetamine.

Với hành vi trên của bị cáo Lê Văn D đã đủ yếu tố cấu thành tội: "Mua bán trái phép chất ma túy", tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do đó, bản cáo trạng số 78/CT-VKSLG-HS ngày 24/8/2022 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã L, tỉnh Bình Thuận truy tố bị cáo Lê Văn D về tội danh, điều luật áp dụng là đúng người, đúng tội, phù hợp với hành vi thực tế mà bị cáo đã thực hiện.

[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo Lê Văn D, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, để biết rõ ma túy là loại biệt dược độc hại, ảnh hưởng không tốt cho sức khỏe, thể chất của người sử dụng, là nguyên nhân làm nảy sinh nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác, nên Nhà nước nghiêm cấm mọi hành vi tàng trữ, mua bán, sử dụng ... trái phép chất ma túy, đồng thời sẽ trừng trị nghiêm những ai cố ý vi phạm. Nhưng xuất phát từ động cơ vụ lợi, bị cáo đã bất chấp hậu quả do ma túy mang lại, cũng như sự trừng trị của pháp luật, nên vào khoảng 17 giờ ngày 23/5/2022, bị cáo xuống khu vực xóm Sình, thuộc phường Bình Tân, thị xã L mua 500.000 đồng ma túy đá của một nam thanh niên (không rõ nhân thân, lai lịch) để sử dụng dần. Đến khoảng 13 giờ ngày 25/5/2022, có Nguyễn Minh H nhắn tin qua ứng dụng Zalo cho bị cáo hỏi mua 200.000 đồng ma túy đá thì bị cáo đồng ý, rồi hẹn Hùng đến nhà của bị cáo tại khu phố 7, phường T, khi cả hai đang thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phát hiện bắt giữ như đã nêu trên.

Hành vi phạm tội của bị cáo Lê Văn D là cố ý, gây nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh trật tự tại địa phương. Hơn nữa, với tình hình tội phạm về ma túy đang ngày một gia tăng mà địa bàn thị xã L là một trong những địa phương có tình hình tội phạm về ma túy diễn biến hết sức phức tạp, dư luận xã hội bất bình, lên án. Do đó, để đảm bảo yêu cầu phục vụ nhiệm vụ chính trị tại địa phương, cần thiết phải xử lý nghiêm, nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong suốt quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; Nhân thân tốt, chưa có tiền án - tiền sự. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo.

[5] Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng: Đối với đoạn ống nhựa và 0,0292 gam mẫu M còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 547 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận; 01 ống thuỷ tinh cong, chiều dài 12cm. Xét, đây là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành; vật không có giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu huỷ.

Đối với số tiền 200.000 đồng thu giữ của bị cáo Lê Văn D. Xét, đây là khoản tiền thu lợi bất chính từ việc phạm tội mà có, cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu xanh đen, thu giữ của bị cáo Lê Văn D. Xét, đây là phương tiện dùng vào việc phạm tội (bị cáo sử dụng để nhắn tin trao đổi mua bán ma tuý), cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

[7] Về vấn đề khác: Đối với anh Nguyễn Minh H có hành vi tàng trữ trái phép 0,0534 gam Methamphetamine, mục đích để sử dụng. Xét, với khối lượng Methamphetamine này thì chưa đủ định lượng để xử lý hình sự. Hơn nữa, bản thân của anh H chưa có tiền án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã L không xử lý hình sự đối với anh Hùng mà ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với anh Hùng là có căn cứ.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

Q YẾT Đ NH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

- Điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.

- Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[1] Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn D, phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

[2] ử phạt: Bị cáo Lê Văn D 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 25/5/2022.

[3] Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong còn nguyên vẹn số: 547 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận; 01 ống thuỷ tinh cong, chiều dài 12cm.

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng và 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu xanh đen.

Các vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã L, có đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/8/2022, giữa Cơ quan CSĐT công an thị xã L và Chi cục thi hành án dân sự thị xã L; theo biên lai thu tiền số 0002120 ngày 24/8/2022 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã L.

[4] Về án phí: Bị cáo Lê Văn D phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[5] Về quyền kháng cáo: Bị cáo Lê Văn D có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định t i Điều 2 Luật thi hành án dân sự đã sửa đổi, bổ sung, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định t i các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự đã sửa đổi, bổ sung; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định t i Điều 30 Luật thi hành án dân sự đã sửa đổi, bổ sung. * Nơi nhận:

Cỡ chữ