vanban.org

Bản án 76/HSST — Hình sự

TAND huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh Tuyên án 24/04/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đặng Văn Nh phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt: Đặng Văn Nh 42 (Bốn mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/12/2017. Tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án. Vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu huỷ mẫu vật còn lại sau giám định trong phong bì thư có dấu niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Văn Nh - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đặng Văn Nh phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 194 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN H. QUẾ VÕ
TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

____________
Bản án số: 76/2018/HSST
Ngày 24/4/2018

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Văn Đại

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thế Sách và bà Ngô Thùy Phương

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Liên, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quế Võ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Võ tham gia phiên tòa: Ông Phùng Đắc Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 4 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 73/2018/HSST ngày 26 tháng 3 năm 2018 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 77/2018/QĐXXST - HS ngày 12 tháng 4 năm 2018, đối với bị cáo:

Đặng Văn Nh, sinh năm 1991;

HKTT: Thôn MD, xã PM, huyện QV, tỉnh BN; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Con ông Đặng Văn S (đã chết) và bà Nguyễn Thị Đ (đã chết); Gia đình có 06 anh chị em, bị cáo là thứ 6; Vợ là Nguyễn Thị Thùy D, sinh năm 1996 và 01 con sinh năm 2013.

Tiền sự: Không.

Tiền án: Tại bản án số 05/2015/HSST, ngày 27/10/2015 của Tòa án nhân dân huyện QV, tỉnh BN xử phạt 36 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Ngày 25/8/2017 chấp hành xong hình phạt tù.

Nhân thân: Ngày 10/4/2014, bị Công an thành phố BN, tỉnh BN xử phạt hành chính về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/12/2017 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ, ngày 19/12/2017, Đặng Văn Nh đi bộ lên khu vực cổng làng GL, xã PL, huyện QV, tỉnh BN gặp và mua của một người đàn ông không quen biết khoảng 35 tuổi 01 gói giấy bạc mầu trắng bên trong chứa chất dạng tinh thể mầu trắng và 02 viên nén hình tròn mầu hồng trên mặt mỗi viên có chữ WY với giá 700.000đ. Sau khi mua được ma túy, Nh mang về nhà sử dụng một ít ma túy dạng tinh thể, số ma túy còn lại Nh luôn mang bên người nhằm mục đích bán kiếm lời.

Khoảng 23 giờ 30 phút, ngày 19/12/2017, Nh đang ở nhà có Nguyễn Trọng D gọi điện cho Nh và nói “Anh để cho em ba hai”, Nh hiểu ý D muốn mua 300.000đ ma túy đá và 200.000đ ma túy ngựa nên trả lời là “Có” và hẹn D đến khu vực đầu đường đôi thôn MD để giao ma túy, D đồng ý.

Khoảng 30 phút sau, D điện thoại cho Nh bảo đã đến nơi, Nh bảo D đi vào ngõ gần quán nét còn Nh đi bộ ra đầu ngõ mang theo 01 gói giấy bạc mầu trắng bên trong có 01 túi nilon mầu trắng chứa các hạt tinh thể mầu trắng và hai viên nén hình tròn mầu hồng trên mặt mỗi viên có chữ WY. Đến nơi, Nh để gói ma túy xuống mặt đường bê tông rồi đứng đợi D. Khoảng 05 phút sau, D và Nguyễn Thiện Ph đến, Nh hỏi D “tiền đâu?”, D không nói gì, Nh hiểu ý D muốn lấy ma túy trước nên Nh có nói “kia kìa”, đồng thời dùng tay chỉ về gói ma túy mà Nh vừa để ở mặt đường. D biết đó là gói ma túy cần mua nên đi đến nhặt và đút vào túi quần phía trước bên trái của D; Nh lại hỏi D “tiền đâu?”, khi D đang chuẩn bị đưa tiền cho Nh thì bị Công an huyện QV phối hợp với Công an xã PM, huyện QV bắt quả tang, thu giữ vật chứng và niêm phong theo quy định.

Vật chứng thu giữ gồm:

Thu giữ tại túi quần phía trước bên trái Nguyễn Trọng D đang mặc 01 gói bọc giấy bạc mầu trắng trong có 01 túi nilon mầu trắng bên trong chứa chất dạng tinh thể mầu trắng và hai viện nén hình tròn trên mặt có chữ WY và 500.000đ; Thu giữ của Đặng Văn Nh 01 điện thoại Samsung mầu đen xám đã qua sử dụng.

Tại bản Kết luận giám định số 81/KLGĐ-PC54 ngày 20/12/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh BN kết luận: “Chất dạng tinh thể mầu trắng bên trong 01 túi nilon mầu trắng có khối lượng 0,1708 gam, là ma túy, loại ma túy: Chất Methamphetamine; 02 viên nén hình tròn mầu hồng có trọng lượng là 0,1830 gam, là ma túy, loại ma túy chất Methamphetamine”.

Tại cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện QV, Đặng Văn Nh đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu ở trên.

Với nội dung trên, tại bản Cáo trạng số 38/CTr-VKS ngày 24/3/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Võ truy tố Đặng Văn Nh về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà hôm nay, bị cáo Đặng Văn Nh đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện QV đã truy tố và thừa nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo về tội Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Võ thực hành quyền công tố tại phiên toà trình bày luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đặng Văn Nh phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng khoản 1,5 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46, điểm g khoản 1 Điều 48; Điều 33 Bộ luật hình sự, xử phạt Đặng Văn Nh từ 38 đến 44 tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam bị cáo. Phạt bị cáo từ 05 triệu đến 07 triệu đồng xung công quỹ Nhà nước.

Vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 41 Bộ luật hình sự năm 1999, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, tịch thu tiêu hủy tang vật là số ma túy còn lại sau giám định. Tịch thu xung quỹ nhà nước số tiền 500.000đ và 01 điện thoại di động hiệu Samsung đã qua sử dụng.

Bị cáo nhận tội không tham gia tranh luận đối với đại diện Viện kiểm sát mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Lời khai nhận tội của bị cáo Đặng Văn Nh tại phiên toà ngày hôm nay phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với thời gian, địa điểm, tang vật thu được tại hiện trường, lời khai của những người làm chứng cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Khoảng 00 giờ 10 phút, ngày 20/12/2017, tại khu vực đầu thôn MD, xã PM, huyện QV, tỉnh BN; Công an huyện QV phối hợp với Công an xã PM bắt quả tang Đặng Văn Nh đang có hành vi bán trái phép 0,3538 gam ma túy, chất Methamphetamine với giá 500.000đ cho Nguyễn Trọng D nhằm mục đích kiếm lời.

Như vậy, có đủ cơ sở kết luận hành vi của Đặng Văn Nh phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, tội phạm được quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự, như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy. Bởi lẽ chất ma túy không đơn thuần chỉ là chất gây nghiện mà còn là nguyên nhân làm gia tăng các loại tội phạm khác, làm mất trật tự trị an địa phương, phá vỡ hạnh phúc gia đình và làm thiệt hại đến kinh tế và sức khỏe bản thân, làm băng hoại đạo đức con người, suy giảm giống nòi.

Trong khi Đảng và Nhà nước ta đang ra sức bài trừ tệ nạn ma túy thông qua các chương trình, mục tiêu quốc gia phòng chống các tội phạm về ma túy thì bị cáo lại cố ý thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình bị pháp luật cấm, thấy trước được tác hại của hành vi mua bán trái phép chất ma túy nhưng vẫn thực hiện để nhằm mục đích thu lợi bất chính. Do vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.

Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì thấy: Bị cáo có nhân thân xấu, năm 2014, bị Công an thành phố BN, tỉnh BN xử phạt hành chính về hành vi “tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 27/10/2015, Tòa án nhân dân huyện QV, tỉnh BN xử phạt 36 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, ngày 25/8/2017 chấp hành xong hình phạt tù. Sau khi ra tù bị cáo không lấy đó làm bài học tu dưỡng bản thân, từ bỏ ma túy mà tiếp tục con đường phạm tội. Lần phạm tội này của bị cáo là tái phạm và phải chịu tình tiết tăng nặng quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự năm 1999.

Tuy nhiên, tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự. Do đó, khi lượng hình hội đồng xét xử cũng cần xem xét, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Ngoài hình phạt chính cần áp dụng hình phạt bổ xung là phạt tiền đối với bị cáo mới thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật. Tuy nhiên xét thấy bị cáo là người mắc nghiện ma tuý, trước khi bị bắt, bị cáo không có công việc ổn định, mức thu nhập thấp nên HĐXX quyết định miễn hình phạt bổ xung là phạt tiền cho bị cáo.

Đối với Nguyễn Trọng D là người mua ma túy của Nh, quá trình điều tra xác định, mục đích D mua ma túy về sử dụng, do lượng ma túy D mua chưa đủ để truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” nên cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vi phạm hành chính là phù hợp.

Đối với Nguyễn Thiện Ph là người đi cùng với Nguyễn Trọng D, quá trình điều tra xác định Ph không biết D rủ đi thôn MD để mua ma túy nên cơ quan điều tra không xử lý đối với Ph là phù hợp pháp luật.

Đối với người đàn ông theo Nh khai đã bán ma túy cho Nh vào tối ngày 19/12/2017, Nh không biết tên, tuổi, địa chỉ của người đàn ông này nên cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, khi làm làm rõ được sẽ xử lý sau.

Tang vật vụ án: Xét thấy 01 phong bì thư có dấu niêm phong của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh BN bên trong đều có thành phần Methamphetamine hoàn lại sau giám định là vật cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với số tiền 500.000đ là tiền D sẽ dùng để mua ma túy của Nh và 01 chiếc điện thoại Samsung dùng để liên lạc trao đổi về việc mua bán ma túy giữa Nh và D nên cần tịch thu xung quỹ Nhà nước.

Án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Đặng Văn Nh phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46, điểm g khoản 1 Điều 48; Điều 33, Điều 41 Bộ luật hình sự năm 1999; Điều 106, Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Xử phạt: Đặng Văn Nh 42 (Bốn mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/12/2017. Tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.

Vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu huỷ mẫu vật còn lại sau giám định trong phong bì thư có dấu niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh BN. Tịch thu xung quỹ Nhà nước số tiền 500.000đ và 01 chiếc điện thoại di động hiệu Samsung mầu xám - đen đã qua sử dụng. (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/3/2018 giữa Công an huyện QV với Chi cục Thi hành án dân sự huyện QV, tỉnh BN).

Án phí: Bị cáo Đặng Văn Nh phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ