- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Huỳnh Nhật Thảo Sương - Phan Tấn Đạt"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà Huỳnh Nhật Thảo S.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHATRANG TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 76/HNGĐ-ST Ngày: 20/6/2023 V/v: Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG,
TỈNH KHÁNH HÒA
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Bà Lê Thị Hồng Minh
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lưu Văn Có
Bà Võ Thị Bời
-Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Việt Hà – Cán bộ Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang tham gia phiên toà:
Bà Nguyễn Cẩm Nhung - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 1553/2022/TLST-HNGĐ ngày 29/12/2022 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 61/2023/QĐXX-ST ngày 19 tháng 5 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 40/2023/QĐST –HNGĐ ngày 01/6/2023, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Bà Huỳnh Nhật Thảo S, sinh năm 1994
Địa chỉ: Thôn Xuân Phú, xã Vĩnh Phương, Nha Trang, Khánh Hòa .
Có đơn xin xét xử vắng mặt
* Bị đơn: Ông Phan Tấn Đ, sinh năm 1981
Địa chỉ: Thôn Phú Bình, xã Vĩnh Thạnh, Nha Trang, Khánh Hòa.
Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ, lời khai trong quá trình tố tụng bà Huỳnh Nhật Thảo Sương trình bày:
Bà Huỳnh Nhật Thảo S và ông Phan Tấn Đ tự nguyện kết hôn với nhau năm 2013, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Vĩnh Phương, Nha Trang, Khánh Hòa (Giấy CNKH số 57, ngày 27/6/2013). Trong quá trình chung sống ông Đ và bà S phát sinh mâu thuẫn không thể giải quyết được. Bà đã về nhà mẹ ruột sinh sống từ tháng 10/2022 đến nay. Hai vợ chồng có mâu thuẫn về cách sống, không có khả năng hàn gắn được nữa, tình cảm vợ chồng đã không còn nên bà S cương quyết xin ly hôn với ông Phan Tấn Đ. Đề nghị Tòa án giải quyết và không tiến hành hòa giải nữa.
* Về con chung: Ông bà có 02 con chung là Phan Quốc Â, sinh ngày 16/5/2013 và Phan Ngọc A, sinh ngày 24/9/2019. Ly hôn, bà đồng ý giao 02 con cho ông Đạt trực tiếp nuôi dưỡng theo nguyện vọng của ông Đ và cháu Â. Bà cấp dưỡng tùy khả năng.
Về tài sản chung: Ông bà tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn – ông Phan Tấn Đ trình bày: Ông thống nhất với lời trình bày của bà Huỳnh Nhật Thảo S về thời gian và điều kiện kết hôn. Mặc dù hai vợ chồng ông bà hiện sống ly thân, Tòa án đã cho thời gian về hàn gắn tình cảm vợ chồng, nhưng thời gian qua ông bà không gặp nhau. Bà S chặn số điện thoại, cũng như hủy kết bạn trên mạng xã hội nên không nhắn tin gọi điện thoại được. Tuy nhiên ông còn thương vợ, thương con nên không đồng ý ly hôn. Ông xin Tòa án cho thêm thời gian nữa để hòa giải.
* Về con chung: Ông bà có 02 con chung là Phan Quốc Â, sinh ngày 16/5/2013 và Phan Ngọc A, sinh ngày 24/9/2019. Ly hôn, tôi xin trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung và không yêu cầu vợ tôi cấp dưỡng nuôi con.
* Về tài sản chung: Chúng tôi tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về việc giải quyết vụ án: Nhận thấy quan hệ hôn nhân giữa bà Huỳnh Nhật Thảo S và ông Phan Tấn Đ không thể tiếp tục duy trì, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56, 58, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình, tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, bà Huỳnh Nhật Thảo S được ly hôn với ông Phan Tấn Đ. Về con chung: Giao 02 con chung là là Phan Quốc Â, sinh ngày 16/5/2013 và Phan Ngọc A, sinh ngày 24/9/2019 cho ông Phan Tấn Đ trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng; tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho bà Huỳnh Nhật Thảo S. Tài sản chung, nợ chung đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết. Bà Huỳnh Nhật Thảo S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Bà Huỳnh Nhật Thảo S khởi kiện yêu cầu được ly hôn đối với ông Phan Tấn Đ, ông Đ có nơi cư trú tại Thôn Phú Bình, xã Vĩnh Thạnh, Nha Trang, Khánh Hòa, do đó thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa theo quy định tại Điều 28, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bà Huỳnh Nhật Thảo S có đơn xin xét xử vắng mặt, ông Phan Tấn Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không lý do nên căn cứ vào Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự.
Bà Huỳnh Nhật Thảo S và ông Phan Tấn Đ tự nguyện kết hôn với nhau năm 2013, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Vĩnh Phương, Nha Trang, Khánh Hòa (Giấy CNKH số 57, ngày 27/6/2013) nên đây là hôn nhân hợp pháp được quy định tại Điều 8 và Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Bà Huỳnh Nhật Thảo S có yêu cầu ly hôn nên Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa thụ lý là đúng quy định tại khoản 1, Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại các biên bản hòa giải, mặc dù ông Phan Tấn Đ không thừa nhận giữa vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, nhưng thực tế cả hai đã sống ly thân gần 01 năm nay. Và bà S cũng đã từng làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn lần thứ hai, ông Đ lên Tòa hứa sửa đổi nhưng vẫn chứng nào tật nấy, không thay đổi nên bà không thể tiếp tục chung sống với ông Đ được nữa. Mặt khác, ông Đ không đồng ý ly hôn vì còn thương vợ thương con, nhưng từ khi ông bà sống ly thân, về nhà mẹ đẻ sống đến nay, ông Đ không có một động thái hoặc biện pháp nào để níu kéo cuộc hôn nhân của hai bên. Như vậy, mâu thuẫn giữa bà S và ông Đ là có thật. Mặc dù ông Đ không đồng ý ly hôn, tuy nhiên ông cũng không đưa ra được biện pháp nào để hàn gắn gia đình.
Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng bà S và ông Đ là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu cứ tiếp tục duy trì cuộc sống gia đình thì cũng không đem lại hạnh phúc cho đôi bên. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của bà S là chính đáng, có căn cứ theo quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Về con chung: Bà Huỳnh Nhật Thảo S và ông Phan Tấn Đ có 02 con chung là Phan Quốc Â, sinh ngày 16/5/2013 và Phan Ngọc A, sinh ngày 24/9/2019. Ông Đạt và bà Sương thỏa thuận giao 02 con chung cho ông Đ trực tiếp nuôi dưỡng. Hiện nay, cháu  có đơn có nguyện vọng được sống cùng ba, và cháu Phan Ngọc A hiện cũng đang sống cùng với ông Đ. Do đó, để đảm bảo ổn định cuộc sống và tâm sinh lý của các cháu nên giao 02 con chung là Phan Quốc Â, sinh ngày 16/5/2013 và Phan Ngọc A, sinh ngày 24/9/2019 cho ông Phan Tấn Đ được trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng là có cơ sở, phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên chấp nhận.
Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Đ không yêu cầu bà Sương cấp dưỡng nuôi con là tự nguyện. Quá trình nuôi dưỡng con chung Phan Quốc  và Phan Ngọc A, nếu ông Đ có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con thì ông Đ có quyền khởi kiện theo quy định của pháp luật. Tại thời điểm này ông Đ không yêu cầu bà S cấp dưỡng nuôi con nên tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho bà Huỳnh Nhật Thảo S.
Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Bà Huỳnh Nhật Thảo S phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014;
Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 266, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà Huỳnh Nhật Thảo S.
* Về quan hệ hôn nhân: Bà Huỳnh Nhật Thảo Sđược ly hôn ông Phan Tấn Đ.
* Về con chung: Giao 02 con chung tên là Phan Quốc Â, sinh ngày 16/5/2013 và Phan Ngọc A, sinh ngày 24/9/2019 cho ông Phan Tấn Đ được trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho bà Huỳnh Nhật Thảo S cho đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5, Điều 84 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 thì Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
* Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
* Về án phí: Bà Huỳnh Nhật Thảo Sphải nộp 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2021/0010894 ngày 29/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nha Trang. Như vậy, bà S đã nộp đủ án phí.
* Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án để đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.
Quy định: Trường hợp quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa; - VKSND Tp.Nha Trang; - Chi cục THADS Tp.Nha Trang; - UBND xã Vĩnh Phương, Nha Trang; - Các đương sự; - Lưu án văn + hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lê Thị Hồng Minh |