- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Duy D - vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? 35, Điều 54 của Bộ luật hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 76/2026/HS-ST Ngày 31/3/2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1- NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Thúy
Các hội thẩm nhân dân: bà Phùng Thị Quỳnh Hòe, bà Phạm Thị Thu Hà.
- Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Thu Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực
1 – Nghệ An
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Nghệ An tham gia phiên
tòa:ông Nguyễn Anh Sáng - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 3 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 - Nghệ An,
xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 65/2026/HSST ngày 12 tháng 3 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 85/2026/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 3 năm 2026 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Duy Đ. Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam; Sinh ngày
27/02/2005 tại tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: khối T, phường V, tỉnh Nghệ An; CCCD: 040205020327; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ trước khi phạm tội: Không; Đoàn thể, Đảng phái: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông: Nguyễn Thanh H, sinh năm 1959; Con bà: Nguyễn Thị T, sinh năm 1974; Vợ, con: chưa có; Anh, chị, em ruột: có 02 người, bị cáo là con thứ hai; Tiền sự, tiền án: Không; Bị cáo hiện bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh từ ngày 25/11/2025 đến nay.
* Bị hại: anh Cụt Văn Q, sinh năm 2002; Trú tại: xóm P, xã T, tỉnh Nghệ An
(Đã chết).
- Người đại diện hợp pháp của anh Cụt Văn Q là ông Cụt Văn D, sinh năm
1967; bà Hà Thị M, sinh năm 1970. Có đơn xin vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Khoảng 1 giờ 50 phút, ngày 25/9/2025, Nguyễn Duy Đ (có giấy phép lái xe
hợp lệ) điều khiển xe mô tô biển số 37B3-214.03 đi trên đường Q, theo chiều hướng từ Vòng xuyến Quán B đi bến xe B. Khi đi đến km457+8800m, thuộc khối N, phường V, tỉnh Nghệ An, do thiếu chú ý quan sát, không giữ khoảng cách với xe chạy liền phía trước nên đã để phần phía trước bên phải xe mô tô do Đ điều khiển va chạm với phần phía sau bên trái xe mô tô biển số 37N4-7975 do anh Cụt Văn Q (sinh năm 2002, trú tại: xóm P, xã T, tỉnh Nghệ An) điều khiển đang di chuyển phía trước cùng chiều.
Hậu quả: anh Cụt Văn Q bị thương, đến ngày 26/9/2025 thì tử vong tại bệnh
viện Hữu Nghi đa khoa tỉnh N.
Kết quả khám nghiệm hiện trường:
Hiện trường dựng lại vụ tai nạn giao thông được xác định tại phần đường P
đường Q thuộc Km 457+880m chạy qua địa phận xóm A, phường T, tỉnh Nghệ An. Đường Quốc lộ 1A này được trải thảm nhựa tương đối bằng phẳng, có giải phân cách cố định chia đường thành hai phần xe chạy ngược chiều nhau, hướng B đi xã D, hướng N đi tỉnh Hà Tĩnh. Phần đường phía Đông rộng 9m được chia thành 3 làn đường gồm 2 làn đường dành cho xe cơ giới, mỗi làn đường rộng 3,5m và làn đường dành cho xe thô sơ rộng 2m, đường thẳng tầm nhìn không bị che khuất, tiếp sát bên đường là vỉa hè và khu vực dân cư.
- Chọn tâm chân cột biển báo “cấm đi ngược chiều” được cắm trên dải phân
cách giữa đường Q phía trước số nhà G đường T làm mốc.
- Lấy mép đường phía Đông của đường Q làm mép đường chuẩn để đo số liệu, đơn vị đo là mét (m) và centimet (cm).
- Xe mô tô biển số 37N4-7975 ở tư thế ngã nghiêng bên trái trên phần đường
phía đông Quốc lộ A, đầu xe hướng Đông, đuôi xe hướng Tây, tâm trục bánh trước cách điểm mốc 7,5m về phía Đông Nam (đo song song với trục tâm đường), tâm trục bánh trước và tâm trục bánh sau cách mép đường chuẩn về phía Tây lần lượt là 2,1m và 3,2m (Vị trí số 1).
- Xe mô tô biển số 37B3-214.03 ở tư thế ngã nghiêng bên trái, đầu xe hướng
Đông, đuôi xe hướng Tây, tâm trục bánh sau và bánh trước cách mép đường chuẩn về phía Tây lần lượt là 3,8m và 2,55m, tâm trục bánh trước xe mô tô này cách tâm trục bánh trước xe mô tô biển số 37N4-7075 về hướng Nam là 6,25m (vị trí số 2).
Kết quả khám nghiệm phương tiện:
Xe mô tô biển kiểm soát 37B3-21403:
Mặt trước, mặt ngoài giảm xóc phía trước bên phải có vùng dấu vết trượt
xước, bám dính chất màu đen, màu trắng trên kích thước (25 x 6)cm; chiều hướng dấu vết từ trước ra sau, điểm cao nhất và thấp nhất cao cách mặt đất lần lượt là 45cm và 25cm.
Mặt ngoài phía bên phải của M1 ơ, bánh lốp trước có vùng dấu vết trượt xước,
bám dính chất màu đen, kích thước (12 x 13)cm, hướng ngược chiều quay tiến của bánh lốp. T1 dấu vết cao cách đất 30 cm. Cánh yếm phía trước bên phải bị gãy vỡ, 1 phần không còn trên xe kích thước (40 x 20)cm. Mặt ngoài phía bên phải của chắn bùn bánh lốp trước có vùng dấu vết trượt xước, gãy vỡ trên diện kích thước (60 x 20)cm bề mặt bám dính chất màu xanh (dạng sơn), chiều hướng từ trước ra sau, điểm cao nhất cách đất 73cm. Mặt trước và mặt ngoài của ốc kim loại bắt cố định giảm xóc phía trước với trục bánh trước có vùng dấu vết trượt xước bám dính chất màu đen, chiều hướng từ trước ra sau. Các dấu vết phía bên trái xe: Đầu ngoài tay lái, mặt ngoài ốp nhựa đầu xe, mặt ngoài cánh yếm, đầu ngoài giá để chân trước, đầu ngoài giá để chân sau, mặt ngoài giá nâng xe phía sau có dấu vết trượt xước kim loại, sơn nhựa bề mặt bám dính chất màu trắng dạng bụi đá đường.
Xe mô tô biển số 37N4-7975
- Hộp xích nằm ở phái sau bên trái xe, phần phía sau của hộp xích có vùng dấu
vết trượt xước, cong vênh, móp lõm, đứt rách, bề mặt bám dính chất màu đen, màu trắng trên diện kích thước (24x7)cm, chiều hướng từ sau ra trước, từ trái sang phải, điểm cao nhất và thấp nhất dấu vết cao cách đất lần lượt là 44cm và 25cm.
- Cụm đèn hậu phía sau, ốp nhựa bên trái thân xe (phần phía sau), chắn bùn
bánh lốp sau bị trượt xước, gãy vỡ, bung rời khỏi vị trí cố định, chiều hướng từ sau ra trước.
- Biển số xe bị bung rời khỏi xe, kiểm tra biển số thấy có dấu vết trượt xước,
công vênh, móp lõm.
Các dấu vết bên trái xe: đầu ngoài tay lái, mặt ngoài cánh yếm, đầu ngoài cần
số, đầu ngoài giá để chân trước, đầu ngoài giá để chân sau, mặt ngoài giá nâng xe phía sau, mặt ngoài ốp nhựa thân xe có vùng dấu vết trượt xước kim loại, nhựa, sơn, cao su bề mặt bám dính chất màu trắng dạng bụi đá đường.
Tại Bản kết luận giám định số: 328/KL-KTHS(DVCH) ngày 14/11/2025 của
Phòng K1 Công an tỉnh N kết luận về dấu vết cơ học:
- Tại thời điểm xảy ra va chạm: xe mô tô biển số 37N4-7945 di chuyển trên
đường QL1A theo hướng từ tỉnh Hà Tĩnh đi xã D, tỉnh Nghệ An; Xe mô tô biển số 37B1-21403 di chuyển cùng chiều với xe mô tô biển số 37N4-7945.
- Không đủ cơ sở để xác định tốc độ di chuyển của xe mô tô biển số 37N4-7945 và xe mô tô biển số 37B1-21403 tại thời điểm xảy ra va chạm.
Vị trí va chạm đầu tiên:
+ Trên hiện trường: Ở phần đường phía Đông đường QL1A.
+ Trên phương tiện: Trên xe mô tô biển số 37N4-7945: Ở phần phía sau bên
trái.
Trên xe mô tô biển số 37B1-21403: Ở phần trước bên phải xe.
- Tư thế va chạm: khi va chạm mặt lăn các bánh lốp xe mô tô biển số 37N4-
7945 và xe mô tô biển số 37B1-21403 đang tiếp xúc với mặt đường.
Tại Bản kết luận giám định số: 347/KLGĐTT-KTHS ngày 13/10/2025 của
Phòng K1 Công an tỉnh N kết luận nguyên nhân chết của anh Cụt Văn Q: “Vỡ xương hộp sọ, phù não, xuất huyết não do chấn thương”
Cơ quan điều tra đã tiến hành đo nồng độ cồn, test thử chất ma túy đối với
Nguyễn Duy Đ, kết quả không có nồng độ cồn và âm tính với chất ma túy
Vật chứng Cơ quan điều tra tạm giữ: 01 xe mô tô biển số 37B3-21403, nhãn
hiệu HONDA, số loại Wave anpha, số máy: JA39E3001595, số khung: RLHJA3924NY531704. Quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô này thuộc sở hữu của anh Lê Bá K (sinh năm 2005, trú tại khối N, phường V, tỉnh Nghệ An). Cơ quan CSĐT đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho anh K. 01 xe mô tô biển số 37N4-7975, nhãn hiệu DEAMACO, số loại: X110, màu sơn Đen Đỏ, số máy: VLF1P52FMH370503232; số khung: RL8WCHEHY71003232. Quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô này thuộc quyền sở hữu của anh Cụt Văn Q. Cơ quan CSĐT đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho đại diện chủ sở hữu là chị Cụt Thị O.
Tại bản cáo trạng số 08/CT-VKS-KV1 ngày 09 tháng 3 năm 2026 của Viện
kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Nghệ An truy tố Nguyễn Duy Đ về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Nghệ An giữ
nguyên theo bản cáo trạng đã truy tố đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: bị cáo Nguyễn Duy Đ phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2
Điều 51, Điều 35 Bộ luật Hình sự. Xử phạt tiền bị cáo Nguyễn Duy Đ từ 40 đến 60 triệu đồng. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị cáo Nguyễn Duy Đ đã tự nguyện bồi
thường cho đại diện gia đình anh C văn Q số tiền 270.000.000 đồng, nay đại diện gia đình bị hại không có yêu cầu gì thêm về dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử miễn xét.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của
pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng của
Viện kiểm sát đã truy tố và không tranh luận gì mà đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt tại phiên tòa và có đơn xin xét xử vắng mặt. Quá trình điều tra đại diện hợp pháp của bị hại đã nhận lại tài sản không có yêu cầu bồi thường gì về dân sự đồng thời có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an
tỉnh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Nghệ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tổ tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về nội dung:
. Về hành vi phạm tội: Tại phiên toà bị cáo Nguyễn Duy Đ khai nhận
hành vi phạm tội của mình đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám xét dấu vết trên hai phương tiện, kết luận giám định y pháp, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên toà. Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 1 giờ 50 phút, ngày 25/9/2025, Nguyễn Duy Đ điều khiển xe mô tô biển số 37B3-214.03 đi trên đường Q, theo chiều hướng từ vòng xuyến Quán B đi bến xe B. Khi đi đến km457+8800m, thuộc khối N, phường V, tỉnh Nghệ An, do thiếu chú ý quan sát, không giữ khoảng cách với xe chạy liền phía trước cùng phần đường nên đã để phần phía trước bên phải xe mô tô do Đ điều khiển va chạm với phần phía sau bên trái xe mô tô biển số 37N4-7975 do anh Cụt Văn Q điều khiển đang di chuyển phía trước cùng chiều. Hậu quả đã gây tai nạn giao thông, làm anh Cụt Văn Q bị thương đến ngày 26/9/2025 thì tử vong. Bị cáo Nguyễn Duy Đ có giấy phép lái xe theo đúng quy định nhưng Nguyễn Duy Đ điều khiển xe do thiếu chú ý quan sát, không giữ khoảng cách an toàn đối với xe chạy liền phía trước cùng phần đường là vi phạm khoản 1, Điều 12 Luật Trật tự an toàn giao thông.
Với hành vi và hậu quả nêu trên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Nghệ
An, truy tố bị cáo Nguyễn Duy Đ về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, năm 2025 là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
. Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Đại diện hợp pháp của bị
hại có đơn xin xét xử vắng mặt và không yêu cầu bồi thường gì thêm về phần dân sự. Việc vắng mặt của đại diện hợp pháp của bị hại không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án vì quá trình điều tra, truy tố đã có lời khai đầy đủ. Căn cứ vào Điều 292 của Bộ luật tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xử vắng mặt theo quy định.
. Xét tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình
sự:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trật tự
quản lý về an toàn giao thông trong khi điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ, xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của công dân được pháp luật bảo vệ. Vì vậy cần lên một mức án nghiêm nhằm giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.
Xét về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Nguyễn Duy Đ không có tình tiết tăng nặng
trách nhiệm hình sự.
Xét về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành
khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình. Sau khi phạm tội bị cáo tự nguyện bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại. Đại diện gia đình của bị hại có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhân thân tốt, Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, từ trước đến nay chưa vi phạm pháp luật. Vì vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự nên cần áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự xét xử dưới khung hình phạt cho bị cáo.
Hành vi phạm tội của bị cáo là lỗi vô ý, phạm tội đang độ tuổi mới trưởng thành, còn quá non trẻ nên khả năng nhận thức pháp luật chưa đầy đủ. Căn cứ vào thân nhân và các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần xử phạt tiền như mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp, có căn cứ cần chấp nhận tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội sửa chữa để trở thành công dân có ích cho xã hội.
. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 260 của Bộ luật
hình sự, thì: “ Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”. Hội đồng xét xử nhận thấy: Bị cáo không phải là người hành nghề lái xe, sau khi phạm tội đã ăn năn, hối cải, tích cực bồi thường, khắc phục hậu quả đối với thiệt hại xảy ra, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và Đại diện hợp pháp gia đình bị hại đã
thỏa thuận bồi thường xong, không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về xử lý vật chứng: Đối với 01 xe mô tô biển số 37B3-21403, nhãn hiệu
HONDA, số loại Wave anpha, số máy: JA39E3001595, số khung: RLHJA3924NY531704. Quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô này thuộc sở hữu của anh Lê Bá K (sinh năm 2005, trú tại khối N, phường V, tỉnh Nghệ An. 01 xe mô tô biển số 37N4-7975, nhãn hiệu DEAMACO, số loại: X110, màu sơn Đen Đỏ, số máy: VLF1P52FMH370503232; số khung: RL8WCHEHY71003232. Quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô này thuộc quyền sở hữu của anh Cụt Văn Q. Hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho các chủ sở hữu là đúng quy định của pháp luật.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều
35, Điều 54 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy Đ 40.000.000đ (Bằng chữ: Bốn mươi triệu đồng)
về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
2. Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, khoản 1 Điều 23
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Duy Đ phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm bị cáo
có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An; Người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ./. Nơi nhân:
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
- TAND tỉnh Nghệ An;
| - VKSND khu vực 1 - Nghệ An; - VKSND tỉnh Nghệ An; - CQ THADS tỉnh Nghệ An; - Công an tỉnh Nghệ An; - Sở Tư pháp tỉnh Nghệ An: - UBND Vinh Hưng, tỉnh Nghệ An: - Người tham gia tổ tụng; - Lưu HS. | Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa Phạm Thị Thúy |