- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "B T P - B M Đ"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Căn cứ chính? Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM KHU VỰC 15 – PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 76/2026/HNGĐ - ST Ngày: 14/9/2026 V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15 – PHÚ THỌ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lò Văn Dần Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Trung Kiên
2. Ông Bùi Văn Tấn Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Hồng Cúc Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15 – Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Đinh Thế Tâm - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 15 – Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 187/2026/TLST- HNGĐ ngày 28 tháng 7 năm 2026 về ly hôn, tranh chấp nuôi con. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 63/2026/QĐXX - ST ngày 21 tháng 8 và Quyết định hoãn phiên toà số 57/2026/QĐST – HNGĐ ngày 07 tháng 9 năm 2026 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Bùi Thị P, sinh năm 2007; Nơi cư trú: Xóm Đ, xã N, tỉnh Phú Thọ. Có mặt.
Bị đơn: Anh Bùi Minh Đ, sinh năm 2003; nơi cư trú: Xóm T, xã M, tỉnh Phú Thọ. Vắng mặt không lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 21/7/2026 cùng bản tự khai ngày 24/7/2026 và tại phiên tòa ngày hôm nay nguyên đơn là chị Bùi Thị P đã trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị P và anh Bùi Minh Đ kết hôn năm 2025 tại UBND xã M, tỉnh Phú Thọ trên cơ sở tự nguyện, được tự do tìm hiểu. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, tuy nhiên về sau vợ chồng thường xuyên xảy ra nhiều mâu thuẫn nguyên nhân là do tính tình không hợp, thường xuyên bất đồng về lối sống và quan điểm sống, vợ chồng không có tiếng nói chung, thường xuyên cự cãi và vợ chồng đã sống ly thân nhau nên đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 15 – Phú Thọ giải quyết ly hôn với anh Bùi Minh Đ.
Về con chung: Chị Bùi Thị P và anh Bùi Minh Đ có 01 con chung là cháu Bùi Đức T, sinh ngày 14/11/2025. Sau khi ly hôn, yêu cầu Tòa án giải quyết giao con cho chị Bùi Thị P là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Anh Bùi Minh Đ có quyền thăm non con chung theo quy định.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Bùi Thị P chưa yêu cầu anh Bùi Minh Đ đóng góp, cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn anh Bùi Minh Đ, Tòa án nhân dân khu vực 15 – Phú Thọ đã tiến hành tổng đạt hợp lệ các văn bản tố tụng. Sau khi nhận được Thông báo thụ lý anh Bùi Minh Đ có đến Tòa án để trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị P. Tuy nhiên, khi Toà án triệu tập anh Đ tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải của Tòa án anh Đ lại vắng mặt.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15 – Phú Thọ phát biểu quan điểm về vụ án như sau:
Qua kiểm sát quá trình giải quyết vụ án thấy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 15 – Phú Thọ. Quá trình giải quyết Tòa án nhân dân khu vực 15 – Phú Thọ đã thụ lý, thu thập các tài liệu chứng cứ và tiến hành tống đạt theo đúng thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã tuân thủ các quy định có liên quan của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa ngày hôm nay, đối với nguyên đơn đã thực hiện đúng còn bị đơn không thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, cố tình trốn tránh, gây khó khăn cho công tác giải quyết vụ án của Tòa án.
Ý kiến về giải quyết vụ án: Hôn nhân giữa chị Bùi Thị P và anh Bùi Minh Đ là hợp pháp. Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và ý kiến của chị P tại phiên tòa ngày hôm nay đã đủ căn cứ cho ly hôn và giải quyết việc việc nuôi con chung, tài sản chung, nợ chung theo yêu cầu của đương sự, chấp nhận là có căn cứ pháp luật, quy định tại các Điều 51, Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án Tòa án nhân dân khu vực 15 – Phú Thọ tuân thủ đúng những quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Theo đơn khởi kiện đề ngày 24/7/2026 chị Bùi Thị P yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, tranh chấp về nuôi con với anh Bùi Minh Đ, địa chỉ: Xóm T, xã M, tỉnh Phú Thọ. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử xác định việc Tòa án nhân dân khu vực 15 – Phú Thọ thụ lý, giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm là đúng quy định của pháp luật về thẩm quyền giải quyết vụ án.
Về việc giao nộp chứng cứ: Chị Bùi Thị P có ý kiến các chứng cứ như đã nộp cho Tòa án nếu anh Bùi Minh Đ cần sẽ giao cho anh Đ nhưng anh Đ không có ý kiến về việc giao nhận nên không giao được. Trước phiên họp và tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, chị P không yêu cầu đương sự khác cung cấp chứng cứ cho mình.
Về xét xử vắng mặt bị đơn: Tại phiên tòa bị đơn anh Bùi Minh Đ vắng mặt lần thứ hai không có lý do khi đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228, của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án để đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của các bên đương sự, cũng như đảm bảo thời hạn tố tụng Tòa án.
Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Bùi Thị P và anh Bùi Minh Đ là tự nguyện, hợp pháp, được UBND xã M, tỉnh Phú Thọ cấp giấy chứng nhận kết hôn. Sau khi kết hôn chị P và anh Đ có về sinh sống tại xã M, tỉnh Phú Thọ và tại bản tự khai của anh Bùi Minh Đ và ông Quách Văn T1 - công chức tư pháp xã M đã cung cấp thông tin chị P và anh Đ kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký hợp pháp theo quy định. Tuy nhiên khi vợ chồng chung sống thường xảy ra mâu thuẫn. Như vậy đã làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân là xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc không đạt được. Do vậy cần chấp nhận giải quyết cho ly hôn theo yêu cầu của chị Bùi Thị P. Căn cứ vào khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Chị Bùi Thị P và anh Bùi Minh Đ có 01 con chung là cháu Bùi Đức T, sinh ngày 14/11/2025. Quá trình giải quyết vụ án chị P yêu cầu được chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục cháu Bùi Đức T. Tại bản tự khai anh Bùi Minh Đ có nguyện vọng được chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục con chung. Sau khi xem xét các yếu tố và cháu Bùi Đức T chưa được 36 tháng tuổi nên Hội đồng xét xử xét giao con cho chị Bùi Thị P là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục là phù hợp quy định tại Điều 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Bùi Thị P chưa yêu cầu anh Bùi Minh Đ đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung nên anh Đ chưa phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị Bùi Thị Phương trình B không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét đến.
Về án phí: Chị Bùi Thị P phải nộp theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đối với bị đơn anh Bùi Minh Đ vắng mặt tại phiên tòa, thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
Vì các lẽ trên ;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 271; Điều 273; Điều 278; Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Xử cho chị Bùi Thị P được ly hôn với anh Bùi Minh Đ.
2. Về con chung: Giao con chung là cháu Bùi Đức T, sinh ngày 14/11/2025 cho chị Bùi Thị P trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị Bùi Thị P chưa yêu cầu anh Bùi Minh Đ đóng góp, cấp dưỡng nuôi con chung.
Anh Bùi Minh Đ có quyền thăm nom con mà không ai được cản trở. Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Chị Bùi Thị P và anh Bùi Minh Đ không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung và nợ chung.
4. Về án phí: Chị Bùi Thị P phải nộp 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí Tòa án số 0001099 ngày 28/7/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ. Chị Bùi Thị P đã nộp đủ án phí.
5. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kế từ ngày tuyên án đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo cùng thời hạn kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Phú Thọ; - VKSND tỉnh Phú Thọ; - THA dân sự tỉnh Phú Thọ; - VKSND kv 15- Phú Thọ; - UBND xã Mường Vang; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Bùi Văn Ơn Bùi Văn Thiệu | TM - HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lò Văn Dần THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lò Văn Dần |