- Tranh chấp gì? Tranh chấp về xây dựng — án kinh doanh thương mại — "Công ty V - Công ty H"
- Tòa quyết gì? Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt/niêm yết hợp lệ.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2-TP. HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 76/2025/KDTM-ST Ngày: 29-8-2025 V/v Tranh chấp hợp đồng thi công |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thúy Quỳnh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Văn Tâm
2. Ông Trần Đăng Vạn
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hải Yến là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Lam - Kiểm sát viên
Trong ngày 29 tháng 8 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 127/2025/TLST-KDTM ngày 31/3/2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng thi công” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 1107/2025/QĐXXST-KDTM ngày 05/8/2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại Dịch vụ Kỹ thuật Cơ điện lạnh V
Địa chỉ: 46 đường D, Phường A - quận G (nay là phường A), Thành phố H
Đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Anh D, sinh năm 1992
Địa chỉ: 58/**/** đường P, Phường B – quận B (nay là phường B), Thành phố H
(Văn bản ủy quyền ngày 11/3/2025)
Bị đơn: Công ty Trách nhiệm hữu hạn Xây dựng H
Địa chỉ: 19 Đường C, RV, phường P - thành phố Thủ Đức (nay là phường P), Thành phố Hồ Chí Minh
Đại diện theo pháp luật: ông Nguyễn Văn H – Giám đốc, sinh năm 1987
Địa chỉ: T2-A09.06 Chung cư M, phường T - thành phố T (nay là phường A), Thành phố Hồ Chí Minh
(Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện nộp ngày 11/3/2025, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Ngày 01/11/2022, Công ty Trách nhiệm hữu hạn Dịch vụ kỹ thuật V (nay là Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại Dịch vụ Kỹ thuật Cơ điện lạnh V) (Sau đây gọi tắt là Công ty V) và Công ty Trách nhiệm hữu hạn Xây dựng kiến trúc A(nay là Công ty Trách nhiệm hữu hạn Xây dựng H) (Sau đây gọi tắt là Công ty H) đã ký kết Hợp đồng lắp đặt hệ thống ĐHKK VRV số 0**0/2022/HDLĐ/VĐT-ADR. Theo đó, Công ty V tiến hành cung cấp, thi công lắp đặt hệ thống điều hòa không khí hệ VRV cho bên Công ty H. Tổng giá trị tạm tính của hợp đồng bao gồm thuế giá trị gia tăng (8%) là 963.423.017 đồng. Thực hiện theo hợp đồng trên, Công ty V đã tiến hành cung cấp và thi công lắp đặt hệ thống điều hòa không khí VRV cho Công ty H đúng như theo thỏa thuận, giữa hai bên cũng đã thực hiện xong các công việc nghiệm thu và bàn giao đưa vào vận hành sử dụng. Ngày 07/01/2023, các bên đã ký biên bản đối chiếu công nợ và xác định Công ty H đã trả số tiền 615.000.000 đồng trên tổng số công nợ thực tế là 920.603.990 đồng, còn nợ Công ty V số tiền là 305.603.990 đồng. Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Buộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn Xây dựng H trả số tiền còn nợ là 305.603.990 đồng.
- Bị đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn Xây dựng H: Dù đã được Tòa án tống đạt, triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do, không cử người tham gia tố tụng và không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Do đó, Tòa án không ghi nhận được ý kiến và không tiến hành hòa giải được.
- Tại phiên tòa: Đại diện nguyên đơn: có đơn xin xét xử vắng mặt, giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và các ý kiến đã trình bày. Bị đơn: Vắng mặt không có lý do. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm: Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và các đương sự đã chấp hành đúng, đầy đủ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
* Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Công ty V yêu cầu Công ty H trả khoản tiền còn nợ của hợp đồng lắp đặt hệ thống điều hòa không khí và Công ty H có trụ sở tại phường P – thành phố Thủ Đức (nay là phường P), Thành phố Hồ Chí Minh nên đây là vụ án tranh chấp hợp đồng thi công và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2025)
* Về thủ tục tố tụng:
Ông D là đại diện theo ủy quyền của Công ty V đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và Công ty H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 228 và điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông D và Công ty H.
* Về nội dung vụ án:
Đối với yêu cầu buộc Công ty H trả số tiền còn nợ, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Căn cứ Hợp đồng lắp đặt hệ thống ĐHKK VRV số 0**0/2022/HDLĐ/VĐT-ADR ngày 01/11/2022, Biên bản đối chiếu công nợ ngày 07/01/2023, lời trình bày của đại diện nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thì đủ cơ sở để xác định: việc ký kết hợp đồng cung cấp, thi công lắp đặt hệ thống điều hòa không khí hệ VRV giữa Công ty Trách nhiệm hữu hạn Dịch vụ kỹ thuật V (nay là Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại Dịch vụ Kỹ thuật Cơ điện lạnh V) và Công ty Trách nhiệm hữu hạn Xây dựng kiến trúc A(nay là Công ty Trách nhiệm hữu hạn Xây dựng H) là có thật, tự nguyện và phù hợp với các quy định của pháp luật. Theo đó, Công ty V đã đã tiến hành cung cấp và thi công lắp đặt hệ thống điều hòa không khí VRV với tổng giá trị thực tế đã bao gồm thuế giá trị gia tăng là 920.603.990 đồng. Công ty H đã thanh toán được 615.000.000 đồng, còn nợ 305.603.990 đồng. Sau đó, dù Công ty V đã nhiều lần liên hệ, yêu cầu thanh toán nhưng Công ty H vẫn không thực hiện việc thanh toán nợ.
Công ty H dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do và không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu của Công ty V.
Căn cứ Điều 50 và Điều 55 của Luật Thương mại, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Công ty H có trách nhiệm trả một lần, ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật cho Công ty V số tiền còn nợ là 305.603.990 đồng.
Ngoài ra, Công ty V không có yêu cầu khác đề nghị Tòa án giải quyết.
Về án phí: Căn cứ Điều 6 và khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì Công ty H phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là: 15.280.200 đồng. Hoàn lại cho Công ty V số tiền tạm ứng án phí đã nộp. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 3 Điều 228, điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2025); Căn cứ vào Điều 50, 55 và Điều 306 của Luật Thương mại; Căn cứ vào Điều 6 và khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử: 1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại Dịch vụ Kỹ thuật Cơ điện lạnh V. Công ty Trách nhiệm hữu hạn Xây dựng H có trách nhiệm thanh toán cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại Dịch vụ Kỹ thuật Cơ điện lạnh V số tiền còn nợ của Hợp đồng lắp đặt hệ thống ĐHKK VRV số 0**0/2022/HDLĐ/VĐT-ADR ngày 01/11/2022 là 305.603.990 (Ba trăm linh năm triệu sáu trăm linh ba nghìn chín trăm chín mươi) đồng. 2. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 306 của Luật Thương mại. 3. Về án phí: Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm 15.280.200 (Mười lăm triệu hai trăm tám mươi nghìn hai trăm) đồng, Công ty Trách nhiệm hữu hạn Xây dựng H chịu. Nộp tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền. Hoàn lại cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại Dịch vụ Kỹ thuật Cơ điện lạnh V 7.640.100 (Bảy triệu sáu trăm bốn mươi nghìn một trăm) đồng, tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 00****4 ngày **/**/2025 của Chi cục Thi hành án Dân sự Thành phố Thủ Đức - Thành phố Hồ Chí Minh (nay là Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh).
4. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt/niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án.
| Nơi nhận: - TAND TP.HCM; - VKSND KV2- TP.HCM; - Các đương sự; - THADS TP.HCM; - Lưu: VP, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Thúy Quỳnh |