vanban.org

Bản án 76/2025/HSST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Lưu M C, Nguyễn D C phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý".

Xử phạt bị cáo Lưu M C 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ ngày 24/12/2024. Xử phạt bị cáo Nguyễn D C 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ ngày 23/12/2024. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán trái phép chất ma túy. - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Lưu M C, Nguyễn D C phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý".
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI DƢƠNG
TỈNH HẢI DƢƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 76/2025/HSST
Ngày: 20-5-2025

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƢƠNG, TỈNH HẢI DƢƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà: Nguyễn Thị Thu Hƣơng.

- Các Hội thẩm nhân dân :

+ Bà Nguyễn Thị Tiến.

+ Ông Đinh Ngọc Phú.

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Hà- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương tham gia phiên: Bà Nguyễn Thị Phƣơng Linh- Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 5 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương mở phiên toà xét xử vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 63/2025/TLST- HS ngày 03 tháng 4 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 66/2025/QĐXXST-HS ngày 08/5/2025 đối với các bị cáo:

1. Lƣu M C, sinh năm 1988. Giới tính: Nam.

Tên gọi khác: Không.

ĐKHKTT và chỗ ở: Số 8 X Th, khu X D, phường T M, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương.

Quốc tịch: Việt Nam;

Dân tộc: Kinh;

Tôn giáo: Không.

Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 8/12

Con ông Lưu V Th và bà Vũ Th Y.

Gia đình có 04 chị em, Mạnh Cường là con thứ tư.

Vợ: Nguyễn Th H, sinh năm 1991- Đã ly hôn

Bị cáo Có 2 con, lớn sinh năm 2012 , nhỏ sinh năm 2014

Tiền sự: Không.

Tiền án:

- Bản án hình sự sơ thẩm số 40/2023/HSST ngày 11/5/2023 của Toà án nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương xử phạt Lưu M C 16 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (trị giá tài sản chiếm đoạt 16.000.000đ). C chấp hành xong hình phạt tù ngày 10/4/2024.

*Nhân thân:

- Bản án hình sự sơ thẩm số 161/HSST ngày 08/11/2007 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương xử phạt 08 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (giá trị tài sản chiếm đoạt 1.500.000đ). Nộp án phí ngày 04/12/2007. Được miễn chấp hành hình phạt tù theo quyết định số 22 ngày 22/10/2009 của Toà án nhân dân tỉnh Hải Dương.

- Bản án hình sự sơ thẩm số 40/HSST ngày 28/9/2007 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương xử phạt 09 tháng tù về tội trộm cắp tài sản (giá trị tài sản chiếm đoạt 2.500.000đ). C nộp án phí ngày 12/3/2008.

- Bản án hình sự sơ thẩm số 163/HSST ngày 09/11/2007 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương xử phạt 39 tháng tù về tội Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ. Tổng hợp với bản án số 40 ngày 28/9/2007 buộc C phải chấp hành 48 tháng tù. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 26/01/2011, nộp án phí ngày 16/7/2008, bồi thường thiệt hại cho bị hại ngày 16/7/2008.

- Bản án hình sự sơ thẩm số 157/2015/HSST ngày 23/9/2015 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương xử phạt 30 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. C chấp hành xong hình phạt tù ngày 01/01/2018, nộp án phí ngày 24/9/2015.

- Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 38 ngày 04/9/2014 của Công an TP. Hải Dương về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, hình thức phạt tiền, mức phạt 1.500.000đ. Nộp phạt ngày 05/9/2014.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 24/12/2024, chuyển tạm giam từ ngày 29/12/2024 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Nguyễn D C, sinh năm 1987; Giới tính: Nam.

Tên gọi khác: Không.

ĐKHKTT và chỗ ở: khu 5, thị trấn Gi L, huyện Gi L, tỉnh Hải Dương.

Quốc tịch: Việt Nam;

Dân tộc: Kinh;

Tôn giáo: Không.

Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 1/12

Con ông Nguyễn D H (đã chết) và bà Nguyễn Th M.

Gia đình có 03 anh em, C là con thứ hai.

Vợ: Vũ Thị L- sinh năm 1986- Đã ly hôn

Bị cáo có 3 con, lớn sinh năm 2005 , nhỏ sinh năm 2023

Tiền án, tiền sự: Không

Nhân thân:

- Bản án hình sự sơ thẩm số 24/2018/HSST ngày 03/5/2018 của Toà án nhân dân huyện Gi L, tỉnh Hải Dương xử phạt 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Nộp án phí ngày 27/6/2018, Chấp hành xong hình phạt tù ngày 05/04/2019.

- Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn số 330 ngày 02/8/2021 của Chủ tịch UBND thị trấn Gi L, huyện Gi L tỉnh Hải Dương, hình thức cai nghiện tại gia đình thời hạn 03 tháng. Chấp hành xong ngày 02/11/2021.

- Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 75 ngày 25/9/2023 của Công an TP. Hải Dương về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, hình thức phạt tiền, mức phạt 3.500.000đ. Nộp phạt ngày 25/9/2023.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23/12/2024, chuyển tạm giam từ ngày 29/12/2024 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương.

Bị cáo có mặt tại phiên toà.

* Ngƣời làm chứng:

1. Anh Phạm Trung H, sinh năm 1983

2. Anh Phạm Huy Ch, sinh năm 1999.

3. Anh Trần Ngọc Ph, sinh năm 1977.

Anh H, anh Ph, anh Ch vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên toà nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn D C và Lưu M C có quen biết nhau từ trước và đều sử dụng ma tuý tổng hợp bằng hình thức hút trực tiếp vào cơ thể. Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 22/12/2024, D C sử dụng tài khoản Zalo “Như Ng” liên hệ tài khoản “Không Vướng” của M C hỏi mua ma túy Methamphetamine (loại hộp 10) để sử dụng và bán kiếm lời. Theo M C khai: Sau khi D C liên hệ mua ma tuý, M C sử dụng tài khoản Zalo liên hệ tài khoản “Phương” của Tran Ngoc Ph (chưa xác định được tên, tuổi, địa chỉ cụ thể) hỏi mua ma tuý tổng hợp Methamphetamine (loại hộp 10), người này đồng ý bán với số tiền 7.200.000đ và nói sẽ để ma túy ở rìa đường cạnh cổng làng X D, phường T M, TP. Hải Dương cho Mạnh C. Khoảng 09 giờ cùng ngày, sau khi được thông báo, M C đi đến khu vực cổng làng X D, lấy được 01 bọc giấy màu trắng, bên trong có 01 túi nilon màu trắng, kích thước khoảng (5x7) cm, bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng (là ma tuý Methamphetamine), M C cất giấu số ma tuý vào túi quần bên phải rồi đi về nhà ở số 08 X Th, phường T M, TP. Hải Dương. Tại đây, M C bỏ giấy bọc bên ngoài, cho 01 túi nilon ma tuý vào trong vỏ bao thuốc lá màu đỏ, cất giấu vào trong túi quần bên phải đang mặc rồi thông báo cho D C biết. Khoảng 22 giờ 35 phút cùng ngày, D C điều khiển xe máy (không xác định được biển số) của 01 người bạn tên T (không xác định được tên, tuổi, địa chỉ) đến nhà M C và chuyển số tiền 7.200.000đ từ tài khoản 4605094339 Ngân hàng BIDV của Nguyễn D C đến tài khoản ứng dụng ViettelPay được đăng kí số điện thoại 0981.019.873 của Lưu M C. Sau đó, M C lấy trong túi quần bên phải đang mặc 01 vỏ bao thuốc lá màu đỏ bên trong có 01 túi nilon, kích thước khoảng (5x7) cm, có chứa chất tinh thể màu trắng (là ma tuý Methamphetamine) đưa cho D C. Sau khi nhận được tiền, M C chuyển số tiền 7.000.000đ đến tài khoản 588995789 Ngân hàng Viettinbank mang tên Tr Ng Ph và giữ lại số tiền 200.000đ. Sau khi mua được ma tuý, D C mang về nhà, chia nhỏ túi ma túy cho vào 02 đoạn ống hút nhựa màu vàng (loại ống hút nước), hàn kín hai đầu để bán với giá 500.000 đồng/01 ống, số ma tuý còn lại trong túi nilon, D C đã sử dụng hết. Đến khoảng 21 giờ 05 phút ngày 23/12/2024, D C mang 02 đoạn ống nhựa bên trong có ma túy tổng hợp đi đến khu vực ngã tư đèn xanh đèn đỏ Chợ cá thuộc khu 2, phường Thạch Khôi, TP. Hải Dương để bán thì bị tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế và ma tuý - Công an thành phố Hải Dương phát hiện bắt quả tang, thu giữ trên tay trái của D C 02 đoạn ống hút nhựa màu vàng có đường kính 0,5cm, dài 2cm, bên trong có chứa chất tinh thể dạng cục màu trắng, D C khai nhận là ma túy Methamphetamine, mục đích cất giấu để bán kiếm lời. Số ma tuý trên, D C mua được của Lưu M C. Ngoài ra, D C còn tự nguyện giao nộp 01 điện thoại di động hiệu Oppo F9 màu đỏ, lắp sim số 0793.233.320, imei 1: 860163044766231, imei 2: 860163044766223. Quá trình bắt giữ có sự chứng kiến của anh Phạm Huy Ch và anh Phạm Trung H.

Đến khoảng 12 giờ ngày 24/12/2024, khi biết Nguyễn D C bị bắt giữ, Lưu M C đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an TP. Hải Dương đầu thú và khai nhận: Khoảng 22 giờ 35 phút ngày 22/12/2024, tại khu vực trước cửa số nhà số 8 X Th, phường T M, thành phố Hải Dương, M C đã bán trái phép ma tuý Methamphetamine cho Nguyễn D C được số tiền 7.200.000đ và tự nguyện giao nộp 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy S9 màu xanh, lắp sim số 0981.019.873, imei 353551093397342.

Tại phiếu xét nghiệm phát hiện chất ma túy trong cơ thể của Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an TP. Hải Dương thể hiện: Nguyễn D C và Lưu M C dương tính với chất ma túy trong cơ thể (MET).

Tại Kết luận giám định số 58/KL-KTHS ngày 26/12/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Hải Dương kết luận: Mẫu chất rắn (dạng tinh thể) màu trắng trong 02 (hai) đoạn ống hút nhựa màu vàng (loại ống hút nước) được hàn kín hai đầu, niêm phong trong phong bì, gửi đến giám định là ma túy; loại: Methamphetamine. Tổng khối lượng mẫu là: 0,214g (Không phẩy hai trăm mười bốn gam)

Bản cáo trạng số 61/CT-VKSTPHD ngày 31/3/2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương truy tố các bị cáo Lưu M C, Nguyễn D C về tội "Mua bán trái phép chất ma tuý".

Trong quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của bản thân.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương giữ quyền công tố tại phiên toà trình bày luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo Lưu M C, Nguyễn D C và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố các bị cáo Lưu M C, Nguyễn D C phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý".

Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự (viết tắt BLHS) đối với bị cáo Lưu M C.

Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn D C.

Xử phạt bị cáo Lưu M C từ 30 tháng đến 33 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ ngày 24/12/2024.

Xử phạt bị cáo Nguyễn D C từ 27 tháng đến 30 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ ngày 23/12/2024.

- Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

- Về vật chứng: Áp dụng điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS:

+ Tịch thu tiêu huỷ: Lượng ma tuý hoàn lại sau giám định 0,181gam ma túy Methamphetamine; 02(hai) đoạn ống hút nhựa màu vàng (loại ống hút nước), 01(một) vỏ phong bì niêm phong đựng trong phong bì niêm phong số 58/KL- KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương.

Tịch thu tiêu hủy sim số 0793.233.320; sim số 0981.019.873. Yêu cầu đơn vị cung cấp dịch vụ viễn thông nhà mạng: MobiFone thu hồi sim số viễn thông số: 0793.233.320; Yêu cầu đơn vị cung cấp dịch vụ viễn thông nhà mạng Viettel thu hồi sim số 0981.019.873.

- Tịch thu phát mại nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại Oppo F9 màu đỏ (của D C) và 01 điện thoại hiệu Sam Sung Glaxy màu xanh (của M C);

- Truy thu số tiền 7.200.000đ của Lưu Mạnh C nộp ngân sách Nhà nước.

- Án phí: Bị cáo M C, bị cáo D C mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Các bị cáo nói lời sau cùng, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, phù hợp lời khai của các bị cáo, người làm chứng, Kết luận giám định, biên bản phạm tội quả tang. Hội đồng xét nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Hải Dương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố, đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi: Khoảng 22 giờ 35 phút ngày 22/12/2024 tại khu vực trước cửa số nhà 8 X Th, khu X D, phường T M, TP. Hải Dương, Lưu M C có hành vi bán trái phép cho Nguyễn D C 01 túi ma tuý Methamphetamine với số tiền 7.200.000đ. Đến khoảng 21 giờ 05 phút ngày 23/12/2024, tại khu vực ngã tư đèn xanh đèn đỏ Chợ cá thuộc khu 2, phường Thạch Khôi, TP. Hải Dường, Nguyễn D C đang cất giấu trái phép 0,214 g ma tuý Methamphetamine được đựng trong hai đoạn ống hút nhựa màu vàng (loại ống hút nước) mục đích để bán kiếm lời thì bị phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Các bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi lỗi cố ý biết việc làm của mình là sai vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo vẫn cất giấu trái phép 0,214 gam ma túy loại Methamphetamine mục đích để bán kiếm lời nên đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 §iều 251 BLHS. Do ®ã víi hµnh vi trªn ViÖn kiÓm s¸t nh©n d©n thµnh phè H¶i Dư¬ng truy tố các bị cáo với tội danh và điều luật nêu trên là đúng người, đúng tội.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, xâm phạm trật tự an ninh xã hội. Việc mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy Nhà nước nghiêm cấm và trừng trị nghiêm khắc đối với những đối tượng mua, bán, tàng trữ trái phép chất ma túy và là nguyên nhân dẫn đến các tệ nạn khác trong xã hội, ảnh hưởng xấu đến nhân cách, đạo đức, sức khỏe con người. Các bị cáo có nhân thân xấu đã bị xử phạt vi phạm hành chính, bị xét xử về tội Trộm cắp tài sản, tội Tàng trữ trái phép chất ma túy nhưng khi chấp hành xong hình phạt tù các bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà tiếp tục phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy. Do vậy cần có mức án nghiêm đối với các bị cáo nhằm giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.

Trong vụ án này, bị cáo M C, bị cáo D C đồng phạm với vai trò đều là người tích cực. Do vậy các bị cáo có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bản thân.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo D C không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Bị cáo Lưu M C có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 40/2023/HSST ngày 11/5/2023 của Toà án nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương xử phạt Lưu M C 16 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (trị giá tài sản chiếm đoạt 16.000.000đ). C chấp hành xong hình phạt tù ngày 10/4/2024. Bản án trên chưa được xóa án tích Ngày 23/12/2024 M C phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy nên M C phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên toà và tại cơ quan điều tra, các bị cáo thành khẩn khai báo nên các bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.

Bị cáo M C có bố đẻ được tặng Huy chương kháng chiến hạng nhì, mẹ đẻ được Chính phủ Cộng hòa nhân dân Lào tặng huy chương chống Mỹ, Khi bị cáo Duy C bị phát hiện quả tang bị cáo đến đầu thú tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hải Dương về hành vi bán trái phép chất ma túy cho D C nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 BLHS

Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo nghề nghiệp không ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về vật chứng: Đối với lượng ma túy hoàn lại sau giám định là vật cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy 0,181gam Methamphetamine theo điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự

- Đối với 02 (hai) đoạn ống hút nhựa màu vàng (loại ống hút nước); 01 (một) vỏ phong bì niêm phong đựng trong phong bì niêm phong mẫu vật được hoàn lại sau giám định không sử dụng được nên tịch thu tiêu hủy theo điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Đối với 01 điện thoại Oppo F9 màu đỏ thu giữ (của D C) và 01 điện thoại hiệu Sam Sung Glaxy màu xanh thu giữ (của M C) các bị cáo dùng làm công cụ thực hiện phạm tội nên tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước;

Đối với sim số 0793.233.320 của D C; sim số 0981.019.873 của M C tịch thu tiêu hủy. Yêu cầu đơn vị cung cấp dịch vụ viễn thông nhà mạng MobiFone thu hồi sim số 0793.233.320. Yêu cầu đơn vị cung cấp dịch vụ viễn thông nhà mạng Viettel thu hồi sim số 0981.019.873.

- Đối với số tiền 7.200.000đ D C mua ma túy của M C và chuyển khoản đến tài khoản của Mạnh C là tiền do phạm tội mà có cần truy thu của M C 7.200.000đ nộp ngân sách Nhà nước.

Số tài khoản 0588995789 ngân hàng Viettinbank mang tên Tran Ngoc Ph là của anh Trần Ngọc Ph, sinh năm1977, ở số 272 Trần H Đ Ng Ch, TP. Hải Dương, số tiền 7.000.000đ mà Lưu M C chuyển đến tài khoản của anh Ph là số tiền M C trả nợ cho anh Ph, không phải là số tiền mua ma tuý nên không có căn cứ xử lý là phù hợp.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý tại nhà ở của Nguyễn D C, ngày 19/3/2025, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an tỉnh Hải Dương đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp pháp luật.

Án phí: Các bị cáo bị kết án nên các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội quy định mức thu lệ phí, án phí toà án.

Vì lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 38; điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106; Điều 136 BLTTHS; Luật phí, lệ phí Tòa án; Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội quy định về mức thu lệ phí, án phí Toà án (đối với bị cáo M C, bị cáo D C)

- Áp dụng khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS đối với bị cáo Lưu M C.

Tuyên bố các bị cáo Lưu M C, Nguyễn D C phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý".

- Xử phạt bị cáo Lưu M C 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ ngày 24/12/2024.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn D C 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ ngày 23/12/2024.

- Về vật chứng:

+ Tịch thu tiêu huỷ: Lượng ma tuý hoàn lại sau giám định 0,181gam ma túy Methamphetamine; 02 (hai) đoạn ống hút nhựa màu vàng (loại ống hút nước); 01 (một) vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định được đựng trong 01 (một) phong bì niêm phong số 58/KL- KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương.

+ Tịch thu tiêu hủy sim số 0793.233.320; sim số 0981.019.873. Yêu cầu đơn vị cung cấp dịch vụ viễn thông nhà mạng: MobiFone thu hồi sim số viễn thông số: 0793.233.320; Yêu cầu đơn vị cung cấp dịch vụ viễn thông nhà mạng Viettel thu hồi sim số 0981.019.873.

+ Tịch thu phát mại nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo F9 màu đỏ (đã qua sử dụng, có nhiều vết xước và có một vết nứt ở cạnh phải bên dưới của màn hình) và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung Glaxy màu xanh nước biển (đã qua sử dụng có nhiều vết xước ở mặt trước và mặt sau của điện thoại, bị vỡ vỏ nhựa ở mặt sau của điện thoại).

(Theo biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hải Dương với Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hải Dương ngày 29/4/2025).

- Truy thu số tiền 7.200.000đ (bảy triệu hai trăm nghìn đồng) của Lưu M C nộp ngân sách Nhà nước (M C chưa nộp).

- Án phí: Các bị cáo Lưu M C, Nguyễn D C mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

- Quyền kháng cáo: Căn cứ khoản 1 Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự các bị cáo Lưu M C, Nguyễn D C có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./. Nơi gửi:

Cỡ chữ