- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn D - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
- Tòa quyết gì? 1/ Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ TỈNH HÀ NAM Bản án số: 76/2025/HS-ST Ngày 25 - 4 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ - TỈNH HÀ NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim Ngân.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Chí Trung và bà Nguyễn Thị Huê.
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Thu Trang - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Thu Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 63/2025/TLST-HS ngày 01 tháng 4 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 71/2025/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 4 năm 2025, đối với bị cáo:
Phạm Văn D, sinh năm 1982 tại Hà Nam; nơi cư trú: Tổ 8, phường L, thành phố P, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn B và bà Trần Thị G (đã chết); vợ: Nguyễn Thị T (đã ly hôn); con: Có 03 con, lớn nhất sinh năm 2004, nhỏ nhất sinh năm 2008; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 04 tháng 01 năm 2025, chuyển tạm giam từ ngày 13 tháng 01 năm 2025 đến nay; có mặt.
* Người làm chứng: Ông Lê Điện B, sinh năm 1959; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ ngày 03/01/2025, Phạm Văn D đi bộ từ nhà ra đường và đi nhờ xe của một người đàn ông không quen biết đến phường Q, thành phố P để tìm mua ma túy sử dụng. Khi đi đến khu vực gần nhà nghỉ Thanh Thủy thuộc tổ 3, phường Q thì D xuống xe và gặp một người đàn ông khoảng 40 tuổi (không rõ nhân thân, lai lịch). Trong lúc nói chuyện D hỏi mua ma túy của người đàn ông này, người này đồng ý. D đưa cho người này 200.000 đồng, người này cầm tiền rồi đưa lại cho D 01 túi nilon màu trắng có kẹp nhựa viền màu đỏ, bên trong chứa 03 viên nén hình tròn màu đỏ. D biết đó là túi ma túy nên cầm cất vào túi áo khoác bên phải, sau đó đi bộ tìm chỗ sử dụng ma túy thì bị lực lượng Công an phường Quang Trung trên đường làm nhiệm vụ, thấy có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu kiểm tra. D tự giác giao nộp cho lực lượng Công an 01 túi nilon màu trắng có kẹp nhựa viền màu đỏ, mở ra kiểm tra thấy bên trong có chứa 03 viên nén hình tròn màu đỏ. Tại chỗ, D khai nhận đó là ma tuý, mục đích cất giữ để sử dụng. Lực lượng công an đã đưa D cùng vật chứng về trụ sở lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Vật chứng, tài sản thu giữ gồm: 01 túi nilon màu trắng có kẹp nhựa màu đỏ, bên trong có chứa 03 viên nén hình tròn màu đỏ được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT01.
Ngày 04/01/2025, Công an phường Quang Trung, thành phố Phủ Lý đã bàn giao hồ sơ vụ án cùng đối tượng Phạm Văn D và tang vật cho Cơ quan Cảnh sát điều tra (viết tắt là CSĐT) - Công an thành phố Phủ Lý để giải quyết theo thẩm quyền.
Ngày 04/01/2025, Cơ quan CSĐT - Công an thành phố Phủ Lý thi hành lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của Phạm Văn D tại tổ 8, phường L, thành phố P, tỉnh Hà Nam, quá trình khám xét không thu giữ đồ vật, tài sản gì liên quan đến vụ án.
Tại Bản kết luận giám định số 37/KL-KTHS ngày 10/01/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hà Nam, kết luận: “Mẫu viên nén trong phong bì ký hiệu QT01 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,311 gam, loại Methamphetamine”.
Tại bản cáo trạng số 73/CT-VKS-PL ngày 31 tháng 3 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý đã truy tố Phạm Văn D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
* Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam giữ nguyên quan điểm truy tố Phạm Văn D theo nội dung bản cáo trạng, không thay đổi, bổ sung gì. Đề nghị Hội đồng xét xử (viết tắt là HĐXX):
+ Tuyên bố bị cáo Phạm Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
+ Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Văn D từ 24 đến 30 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
+ Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy hoàn trả sau giám định cùng toàn bộ bao gói.
+ Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
- Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố, bị cáo không có ý kiến tranh luận, bào chữa gì. Đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Đối với người tham gia tố tụng là người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai của họ, được cơ quan điều tra tiến hành lấy lời khai theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do vậy HĐXX vẫn tiến hành xét xử theo quy định của pháp luật.
[3] Về tội danh: Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý đã truy tố. Lời khai của bị cáo được thẩm tra tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ, niêm phong vật chứng, bản kết luận giám định, lời khai của người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 03/01/2025, tại khu vực gần nhà nghỉ Thanh Thủy thuộc tổ 3, phường Q, thành phố P, Phạm Văn D đang cất giữ trái phép 0,311 gam ma túy, loại Methamphetamine trong túi áo khoác bên phải, mục đích để sử dụng thì bị lực lượng Công an phường Quang Trung, thành phố Phủ Lý phát hiện bắt quả tang. Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý truy tố đối với Phạm Văn Dậu là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[4] Về nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo có thời gian tham gia quân đội, bố đẻ là người có công với cách mạng được tặng thưởng Huân chương kháng chiến và kỷ niệm chương; gia đình có hoàn cảnh khó khăn, thuộc diện hộ nghèo có xác nhận của chính quyền địa phương nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
[5] Về hình phạt:
Hình phạt chính: Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thực hiện với lỗi cố ý, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, gây ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự trên địa bàn thành phố Phủ Lý, là nguyên nhân phát sinh nhiều hành vi vi phạm pháp luật khác, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Do vậy, cần phải xử lý nghiêm đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục riêng và phòng ngừa chung, song xét bị cáo thành khẩn khai báo nên cũng cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.
Hình phạt bổ sung: Xét mục đích bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy là để sử dụng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Xử lý vật chứng:
Đối với số ma túy loại Methamphetamine được niêm phong trong phong bì số 37/KTHS là vật cấm tàng trữ cần tịch thu tiêu hủy.
[7] Các tình tiết khác:
Đối với nguồn gốc số ma túy thu giữ của Phạm Văn D, bị cáo khai mua của người đàn ông khoảng 40 tuổi tại khu vực gần nhà nghỉ Thanh Thủy thuộc tổ 3, phường Quang Trung, thành phố Phủ Lý, bị cáo không biết tên tuổi, địa chỉ của người này. Cơ quan CSĐT - Công an thành phố Phủ Lý đã phối hợp với Công an phường Quang Trung xác minh nhưng không xác định được nhân thân, lai lịch của người này. Ngoài lời khai của bị cáo thì không còn tài liệu, chứng cứ nào khác nên không có căn cứ xử lý trong vụ án này.
[8] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
[9] Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, các Điều 38, 47, 50 của Bộ luật Hình sự.
Căn cứ các Điều 106, 136, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Căn cứ Luật Phí và Lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1/ Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2/ Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn D 27 (hai mươi bẩy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 04 tháng 01 năm 2025.
3/ Xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy số ma túy loại Methamphetamine cùng bao gói hoàn trả sau giám định được niêm phong trong phong bì mặt trước ghi “Mẫu vật hoàn trả QT01” số 37/KTHS.
(Tình trạng vật chứng như trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 02/4/2025 giữa Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh Hà Nam với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam).
4/ Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Phạm Văn D phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).
Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành bản án được quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND Tối cao; - TAND tỉnh Hà Nam; - VKSND tỉnh Hà Nam; - VKSND TP Phủ Lý; - CQ CSĐT CA tỉnh Hà Nam; - Chi cục THADS TP Phủ Lý; - Cơ quan THAHS và hỗ trợ tư pháp CA tỉnh Hà Nam; - Trại tạm giam CA tỉnh Hà Nam; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Nguyễn Thị Kim Ngân |