vanban.org

Bản án 76/2025/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về hoạt động cho vay của Tổ chức tín dụng, chi nhánh Ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng;

Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần T: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "tranh chấp hợp đồng tín dụng"
  • Tòa quyết gì? Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về hoạt động cho vay của Tổ chức tín dụng, chi nhánh Ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng;
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Thông tư số 39/2016/TT-NHNN Quy định về hoạt động cho vay củ…; Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 10
THÀNH PHỐ H

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 76/2025/DS-ST
Ngày: 17-7-2025
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – THÀNH PHỐ H

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lại Phước Trường

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Nguyễn Ngọc Thanh Tuyền

2. Võ Hoàng Thu.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Thành – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 10, Thành phố H

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 10, Thành phố H tham gia phiên tòa: Ngô Hoàng Phương Đại – Kiểm sát viên

Ngày 17 tháng 7 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 10, Thành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 240/2025/DSST ngày 01 tháng 4 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 538/2025/QĐXXST-DS ngày 03 tháng 6 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 476/2025/QĐST-DS ngày 23 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần T

Địa chỉ trụ sở: 266-268 N, phường Võ Thị Sáu, Quận X, Thành phố H

Nay là địa chỉ: 266-268 N, phường Xuân Hòa, Thành phố H.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là: Công ty A (Công ty SBA).

Địa chỉ: 278 N (lầu 5), phường Xuân Hòa, Thành phố H (theo văn bản ủy quyền số 3815/2024/GUQ-PC ngày 10/12/2024).

Người được ủy quyền của Công ty A là ông: Trần Gia T, sinh năm: 1971; địa chỉ liên lạc: 278 N (lầu 5), phường Xuân Hòa, Thành phố H (theo văn bản ủy quyền số 589/2025/UQ-TGĐ ngày 18/02/2025) (có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Ông Võ Tấn P, sinh năm: 1997;

Địa chỉ: D26/49 Ấp 4, xã H, huyện BC, Thành phố H (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 04/3/2025, bản tự khai nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần T (sau đây viết là Ngân hàng) do ông Trần Gia T là người đại diện hợp pháp trình bày:

Ngày 08/11/2018, Ông Võ Tấn P có ký với Ngân hàng TMCP T hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng - các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Ngân hàng đã cấp thẻ tín dụng loại thẻ Visa, số thẻ 472075-1399, hạn mức tín dụng được cấp là 20.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất áp dụng là: 2,766%/tháng. Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, ông P đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 342.779.218 đồng.

Trong quá trình sử dụng thẻ, ông P đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 336.299.000 đồng (chi tiết các lần thanh toán trong bảng sao kê tóm tắt đính kèm). Tổng số tiền trên được thanh toán áp dụng theo điều 20 của bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng cụ thể việc thanh toán sẽ được áp dụng theo thứ tự như sau:

+ Các khoản phí và/ hoặc lãi của kỳ trước

+ Giao dịch rút tiền mặt của kỳ trước

+ Giao dịch mua hàng hóa của kỳ trước

+ Các khoản phí và/ hoặc lãi trong kỳ

+ Giao dịch rút tiền mặt trong kỳ

+ Giao dịch mua hàng hóa trong kỳ

Trong thời gian sử dụng thẻ thì ông P đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán, mặc dù Ngân hàng đã nhiều lần nhắc nhở nhưng ông P không có thiện chí trả nợ. Do ông P vi phạm nghĩa vụ thanh toán tại Điều 2 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng, nên ngày 23/12/2022 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 23 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ tại thời điểm này là 25.918.052 đồng làm nợ gốc, áp dụng lãi suất nợ quá hạn (150% của lãi suất được công bố và áp dụng tại thời điểm hiện tại).

Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Ông P phải trả số tiền vốn và lãi còn thiếu tính đến ngày 17/07/2025 là 59.540.662 đồng, trong đó nợ gốc là: 25.918.052 đồng và lãi quá hạn là: 33.622.610 đồng, làm một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Đồng thời ông P có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 18/07/2025 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.

- Bị đơn ông Võ Tấn P vắng mặt nên Tòa án không ghi nhận được lời khai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10, Thành phố H phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán và của Hội đồng xét xử kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án đã đảm bảo các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa chấp hành đúng các quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc đưa vụ án ra xét xử đúng theo quy định của pháp luật.

Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng và thẩm quyền giải quyết:

Ngân hàng TMCP T khởi kiện yêu cầu ông Võ Tấn P thanh toán tiền gốc và tiền lãi đối với khoản vay theo giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 08/11/2018. Đây là tranh chấp về hợp đồng dân sự vay tài sản thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 10, Thành phố H theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 được sửa đổi bổ sung theo khoản 2 Điều 1 của Luật số 85/2025/QH15 của Quốc Hội, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Bị đơn ông Võ Tấn P đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng triệu tập đến Tòa án để tự khai, hòa giải, tham gia phiên tòa nhưng ông Võ Tấn P đều vắng mặt không có lý do. Vì vậy căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vụ án.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ do nguyên đơn cung cấp có cơ sở xác định vào ngày 08/11/2018, Ngân hàng TMCP T và ông Võ Tấn P có ký kết hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng), Ngân hàng đã phê duyệt hạn mức tín dụng cho ông P là: 20.000.000 đồng. Theo chứng cứ mà Ngân hàng cung cấp thì từ khi kích hoạt sử dụng thẻ tín dụng ông P đã thực hiện giao dịch với số tiền là: 342.779.218 đồng và đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền là 336.299.000 đồng. Do ông P vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo quy định tại Điều 2 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng nên ngày 23/12/2022 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn theo quy định tại Điều 23 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng.

Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông Võ Tấn P phải thanh toán nợ gốc là 25.918.052 đồng và lãi quá hạn: 33.622.610 đồng. Tổng cộng là: 59.540.662 đồng (Năm mươi chín triệu, năm trăm bốn mươi ngàn, sáu trăm sáu mươi hai đồng) là có cơ sở chấp nhận.

Vì vậy, buộc ông Võ Tấn P phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP T số tiền vốn và lãi còn thiếu tính đến ngày 17/7/2025 là: 59.540.662 đồng (Năm mươi chín triệu, năm trăm bốn mươi ngàn, sáu trăm sáu mươi hai đồng) là có cơ sở chấp nhận.

- Thời hạn thanh toán: thanh toán kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của bên cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho bên cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của bên cho vay.

Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm là: 2.977.033đ (Hai triệu chín trăm bảy mươi bảy ngàn không trăm ba mươi ba đồng) do ông Võ Tấn P nộp.

Ngân hàng TMCP T không phải nộp án phí, trả lại cho Ngân hàng số tiền tạm ứng án phí đã nộp là: 1.344.240đ (một triệu ba trăm bốn mươi bốn ngàn hai trăm bốn mươi đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 được sửa đổi bổ sung theo khoản 2 Điều 1 của Luật số 85/2025/QH15 của Quốc Hội ngày 25/6/2025, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự 2015;

- Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010;

- Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về hoạt động cho vay của Tổ chức tín dụng, chi nhánh Ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng;

- Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

- Điều 26 Luật Thi hành án dân sự.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần T:

1. Buộc ông Võ Tấn P thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần T số tiền vốn và tiền lãi của khoản vay theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 08/11/2018, Bản điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần T tính đến ngày 17/7/2025 với số tiền là: 59.540.662 đồng (Năm mươi chín triệu, năm trăm bốn mươi ngàn, sáu trăm sáu mươi hai đồng) trong đó: nợ gốc là: 25.918.052 đồng và lãi quá hạn: 33.622.610 đồng.

2. Thời hạn thanh toán: thanh toán kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Ông Võ Tấn P nộp án phí là: 2.977.033đ (Hai triệu chín trăm bảy mươi bảy ngàn không trăm ba mươi ba đồng).

- Ngân hàng Thương mại Cổ phần T không phải nộp án phí, trả lại Ngân hàng Thương mại Cổ phần T số tiền tạm ứng án phí đã nộp là: 1.344.240đ (một triệu ba trăm bốn mươi bốn ngàn hai trăm bốn mươi đồng) theo biên lai thu số 0052146 ngày 25/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện BC (nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 10, Thành phố H).

4. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

5. Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện yêu cầu thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ