vanban.org

Bản án 76/2024/HSST — Hình sự

TAND TX. Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 21/05/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Căn cứ Điều 326 Bộ luật tố tụng hình sự: Tuyên bố bị cáo Ngô Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt chính: Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Ngô Văn T 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn thụ hình tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 18/12/2023. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Ngô Văn T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Căn cứ Điều 326 Bộ luật tố tụng hình sự: Tuyên bố bị cáo Ngô Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
T PHỐ PHỔ YÊN
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:76/2024/HSST
Ngày:21/05/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN T PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

Với T phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán-Chủ toạ phiên toà: Bà Hà Thị Thu Thủy.

- Các hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Thanh.

2. Ông Nguyễn Hồng Hải.

Thư ký phiên tòa: Ông Cao Văn Chiến-Thư ký Tòa án nhân dân T phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân T phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim Cúc- Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 05 năm 2024, tại trụ sở Ủy ban nhân dân phường Đông Cao, T phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số: 43/2024/TLST- HS ngày 27 tháng 03 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:72/2024/QĐXX-ST ngày 06/05/2024 đối với bị cáo:

Ngô Văn T; Tên gọi khác: Không; Sinh năm 1975 tại PY; Trú tại: Tổ dân phố ST, phường ĐC, thành phố PY, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá lớp: 7/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Ngô Văn T và bà Nguyễn Thị N, bị cáo chưa có vợ con.

Tiền án, Tiền sự: Không.

Nhân thân: Năm 2014, bị Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội xử phạt 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” Tại bản án số 118/2014/HSST ngày 07/8/2014 (bị cáo chấp hành xong bản án ngày 06/7/2020)

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/12/2023 đến nay, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên (có mặt tại phiên toà).

*Người chứng kiến:

1. Ông Trần Đình T, sinh năm 1999 (có mặt);

Trú tại: Tổ dân phố TT, phường ĐC, thành phố PY, tỉnh Thái Nguyên.

2. Ông Nguyễn Quang T, sinh năm 1977 (vắng mặt);

Trú tại: Tổ dân phố TT, phường ĐC, thành phố PY, tỉnh Thái Nguyên.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 12 giờ 55 phút ngày 18/12/2023, tổ công tác Công an phường ĐC, thành phố Phổ Yên đang tuần tra kiểm soát tại khu vực tổ dân phố Trà Thị, phường ĐC, thành phố phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên thì phát hiện một đối tượng nam giới sau xác định được là Ngô Văn T có biểu hiện nghi vấn tàng trữ trái phép chất ma tuý. Tiến hành kiểm tra, T đã tự nguyện giao nộp cho tổ công tác 01 túi nilon màu trắng, được lấy từ túi quần phía trước bên phải T đang mặc, bên trong có 03 gói giấy màu trắng chứa chất bột màu trắng đục và 01 túi nilon màu trắng bên trong có chứa chất bột màu đỏ. Theo T khai số chất bột màu trắng đục trên là ma tuý loại Heroine và số chất bột màu đỏ trên là ma tuý loại Hồng phiến, T vừa mua với giá 400.000 đồng tại khu vực tổ dân phố CT, phường TT, thành phố PY để sử dụng cho bản thân. Sau đó tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong số vật chứng theo quy định rồi chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố PY để giải quyết theo thẩm quyền.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Phổ Yên phối hợp với Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên, tiến hành cân khối lượng số chất bột màu trắng đục và số chất bột màu đỏ thu giữ của Ngô Văn T được 0,298 gam và 0,048 gam, niêm phong trong phong bì ký hiệu K và K1 gửi giám định.

Tại bản Kết luận giám định số 50/KL-KTHS ngày 27/12/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên, kết luận: Chất bột màu trắng đục niêm phong trong phong bì ký hiệu K là chất ma tuý, loại Heroine, khối lượng của mẫu giám định là 0,298 gam; Chất bột màu đỏ trong phong bì ký hiệu K1 là chất ma tuý, loại Methamphetamine, khối lượng của mẫu giám định là 0,048 gam.

Quá trình điều tra xác định được: Do bản thân có nhu cầu sử dụng ma túy nên khoảng 11 giờ ngày 18/12/2023, T đi nhờ xe của người đi đường từ nhà thuộc tổ dân phố ST, phường ĐC, thành phố PY, tỉnh Thái Nguyên đến khu vực tổ dân phố CT, phường TT, thành phố PY, tỉnh Thái Nguyên để mua ma túy. Đến nơi, T đứng đợi ở rìa đường khoảng 2-3 phút thì gặp một người nam giới không quen biết rồi hỏi mua 300.000 đồng ma tuý Heroine và 100.000 đồng ma tuý Hồng phiến. Người nam giới đồng ý, cầm tiền và đưa lại cho T 01 túi nilon, bên trong có 03 gói giấy màu trắng, trong mỗi gói đều chứa chất bột màu trắng đục là ma tuý Heroine và 01 túi nilon bên trong có chứa 01 viên nén màu đỏ là ma túy Hồng phiến. T cất số ma túy vừa mua được vào túi quần bên phải phía trước rồi đi bộ về nhà. Trên đường đi, T dùng bật lửa để nghiền nhỏ viên nén màu đỏ rồi lại cất vào túi quần. Khi đi đến khu vực tổ dân phố TT, phường Đ C, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên thì bị lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện bắt quả tang như nêu trên.

Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà Ngô Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu ở trên. Bị cáo đã thừa nhận ngày 18/12/2023 đã có hành vi tàng trữ 0,298 gam ma túy loại Heroine và 0,048 gam chất ma túy loại Methamphetamine với mục đích để sử dụng cho bản thân, ngoài ra không nhằm mục đích gì khác.

Tại Bản cáo trạng số: 53/CT- VKSPY ngày 27/03/2024 của Viện kiểm sát nhân dân T phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo Ngô Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Kết thúc thẩm vấn đại diện Viện kiểm sát nhân dân T phố Phổ Yên luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Ngô Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt chính: Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt Ngô Văn T từ 24 đến 30 tháng tù;

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với bị cáo;

Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu K, ghi hoàn trả 0,284 gam mẫu K và vỏ bao gói mẫu K; 01 (một) phong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu K1 ghi hoàn trả vỏ bao gói mẫu K1; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu L ghi mẫu lưu kho vụ Ngô Văn T.

Về án phí: Bị cáo T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật để nộp ngân sách Nhà nước.

Phần tranh luận: Bị cáo T không tranh luận gì, nhất trí với luận tội của Viện kiểm sát. Nói lời nói sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để sớm được về đoàn tụ với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

. Hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Phổ Yên, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về sự vắng mặt của người chứng kiến: Tại phiên tòa người chứng kiến ông Toàn vắng mặt. Bị cáo T và đại diện viện Kiểm sát đề nghị tiếp tục xét xử. Xét thấy người chứng kiến ông Toàn đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, sự vắng mặt của ông Toàn không gây trở ngại cho việc xét xử. Căn cứ Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự, Toà án tiếp tục đưa vụ án ra xét xử là đúng quy định của pháp luật.

. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là hoàn toàn tự nguyện, khách quan, thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra về thời gian, địa điểm, hành vi phạm tội, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người chứng kiến, Bản kết luận giám định chất ma tuý và các chứng cứ tài liệu khác được thu thập hợp lệ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Ngô Văn T là người nghiện ma tuý, khoảng 11 giờ ngày 18/12/2023, T đi nhờ xe của người đi đường từ nhà đi đến khu vực tổ dân phố CT, phường TT, thành phố Phổ Yên, gặp một người nam giới không quen và mua 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) ma tuý loại Heroine và 100.000 đồng ma tuý Hồng phiến được đựng trong 01 túi nilon, bên trong có 03 gói giấy màu trắng, trong mỗi gói đều chứa chất bột màu trắng đục là ma tuý Heroine và 01 túi nilon bên trong có chứa 01 viên nén màu đỏ là ma túy Hồng phiến. Khi mua được ma tuý T cất vào túi quần bên phải phía trước đang mặc rồi đi bộ về nhà. Trên đường đi, T dùng bật lửa để nghiền nhỏ viên nén màu đỏ rồi lại cất vào túi quần. Khi đi đến khu vực tổ dân phố Trà Thị, phường Đông Cao, T phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên thì bị lực lượng công an kiểm tra, phát hiện bắt quả tang thu giữ toàn bộ số ma tuý mà T vừa mua được. Cân trọng lượng được 0,298 gam và 0,048 gam, Kết luận giám định 0,298 gam là ma tuý loại Hêroine và 0,048 gam ma tuý loại Methamphetamine. Tổng trọng lượng hai chất ma tuý là 0,346 gam. Như vậy hành vi, ý thức nêu trên của Ngô Văn T đã đủ yếu tố cấu T tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Do đó bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân T phố Phổ Yên đã truy tố bị cáo Ngô Văn T về tội danh và Điều luật đã viện dẫn ở trên là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:...

i)Có 02 chất ma tuý trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma tuý quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này”.

. Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, gây mất trật tự an ninh tại địa phương, tiếp tay cho những đối tượng mua bán chất ma tuý, làm gia tăng tội phạm, gây bất bình trong nhân dân. Do vậy cần phải đưa ra xử lý nghiêm minh trước pháp luật và có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để cải tạo giáo dục bị cáo và để răn đe, phòng ngừa chung.

. Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hình phạt thấy: Bị cáo xuất thân từ nhân dân lao động, học đến lớp 7 rồi nghỉ học, do thiếu tu dưỡng rèn luyện, thiếu bản lĩnh nên đã mắc nghiện ma tuý rồi dẫn đến việc phạm tội. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã T khẩn khai báo nên cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Khi lượng hình Hội đồng xét xử thấy bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng, Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã từng bị xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Nhưng đã không lấy đó làm bài học để sửa chữa bản thân, từ bỏ ma túy mà sau khi chấp hành xong án phạt tù bị cáo lại tiếp tục phạm tội từ đó có thể thấy bị cáo là người coi thường pháp luật. Vì vậy cần phải có mức hình phạt nghiêm khắc buộc bị cáo cách ly khỏi xã hội một thời gian mới có thể cải tạo giáo dục bị cáo thành người tốt được.

Mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị tại phiên toà là phù hợp, được chấp nhận.

. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện, không có tài sản và thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

. Về xử lý vật chứng: 01 phong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu K ghi hoàn trả 0,284 gam mẫu K và vỏ bao gói mẫu K; 01 phong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu K1 ghi hoàn trả vỏ bao gói mẫu K1; 01 phong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu L ghi mẫu Lưu kho vụ Ngô Văn T. Đây là số ma tuý còn lại sau giám định và là vật chứng của vụ án, không có giá trị sử dụng, cần tịch thu để tiêu huỷ.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm để nộp Ngân sách Nhà nước theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị Quyết 326 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về thu, miễn giảm án phí, lệ phí tòa án.

. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

. Về các vấn đề khác: Về nguồn gốc số ma túy Heroine và Methamphetamine thu giữ, Ngô Văn T khai mua của một người nam giới mặc quần áo màu đen, đeo khẩu trang, đội mũ bảo hiểm trùm kín đầu tại khu vực tổ dân phố CT, phường TT, thành phố PY, tỉnh Thái Nguyên. T không biết tên, tuổi, địa chỉ, đặc điểm nhận dạng người nam giới này, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an T phố Phổ Yên tiếp tục điều tra, xác minh nếu có căn cứ sẽ xử lý sau.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Căn cứ Điều 326 Bộ luật tố tụng hình sự: Tuyên bố bị cáo Ngô Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt chính: Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Ngô Văn T 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn thụ hình tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 18/12/2023.

Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự: Ra quyết định tạm giam bị cáo Ngô Văn T 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo công tác thi hành án.

3. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

4. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu K ghi hoàn trả 0,284 gam mẫu K và vỏ bao gói mẫu K; 01 phong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu K1 ghi hoàn trả vỏ bao gói mẫu K1; 01 phong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu L ghi mẫu Lưu kho vụ Ngô Văn T.

“Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an T phố Phổ Yên với Chi cục thi hành án dân sự T phố Phổ Yên ngày 29/03/2024”.

5. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Ngô Văn T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà Nước.

6. Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự. Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo báo cho biết được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ