- Tranh chấp gì? án hình sự — "Mùi Văn Nghị - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Mùi Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số 76/2024/HS-ST Ngày 29-02-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Như Khánh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Đình Bản và bàn Nguyễn Thị Hiền.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thùy Linh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thủy, Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 02 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 79/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 02 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 79/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 02 năm 2024 đối với bị cáo:
Mùi Văn N, sinh ngày: 16/3/1978 tại huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La; nơi thường trú: Bản Nà Sành, xã Tân Hợp, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La; nơi tạm trú: Bản Phiêng Cành, xã Tân Lập, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa (học vấn): Không biết chữ; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng phái, đoàn thể: Không; con ông Mùi Văn Long và bà Mùi Thị Mùi; bị cáo có vợ là Đinh Thị Vinh, có 03 con; tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 22/02/2011, Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu xử phạt 30 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo khoản 1, 5 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46; khoản 2,3 Điều 30 Bộ luật Hình sự 1999 (đã được xóa án tích); bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/01/2024 đến nay. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 16 giờ 20 phút ngày 01/01/2024, tổ công tác Công an huyện Mộc Châu làm nhiệm vụ tại tiểu khu Pa Khen, thị trấn Nông Trường Mộc Châu, huyện Mộc Châu tiến hành kiểm tra đối với Mùi Văn N đang đi bộ trên đường dân sinh. Qua kiểm tra phát hiện N đang cầm trong lòng bàn tay phải 01 gói giấy bạc màu vàng bên trong có chứa hai viên nén màu hồng, trên bề mặt mỗi viên đều có ký hiệu WY nghi là Methamphetamine. N khai nhận đó là ma tuý của N cất giấu để sử dụng cho bản thân. Căn cứ vào hành vi vi phạm của Mùi Văn N, tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ niêm phong vật chứng và dẫn giải Mùi Văn N về cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu để điều tra, xử lý.
Ngày 01/01/2024, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu đã tiến hành xác định khối lượng 02 viên nén màu hồng thu giữ của Mùi Văn N được 0,20 gam, lấy toàn bộ làm mẫu trưng cầu giám định, mẫu có ký hiệu N.
Tại Kết luận giám định số 220 ngày 04/01/2024 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: “Mẫu ký hiệu N gửi giám định là ma túy; loại Methamphetamine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,20 gam; Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,20 gam; loại Methamphetamine”.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Mùi Văn N khai nhận: Bản thân nghiện chất ma túy. Khoảng 13 giờ ngày 01/01/2024, N đi bộ đến tiểu khu Pa Khen, thị trấn Nông Trường Mộc Châu để tìm việc làm thuê. Khi đi đến nơi N gặp một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết, N hỏi mua được của người đó 02 viên hồng phiến được gói bằng mảnh giấy bạc màu vàng với giá 100.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, N cầm gói ma túy trong lòng bàn tay phải đi tìm nơi sử dụng. Trên đường đi gặp tổ công tác Công an huyện Mộc Châu kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang.
Đối với người đàn ông dân tộc Mông đã bán ma túy cho Mùi Văn N như N khai nhận, quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu không có căn cứ để điều tra, làm rõ và xử lý.
Cáo trạng số 24/CT-VKS ngày 31/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu truy tố bị can Mùi Văn N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu giữ nguyên cáo trạng truy tố, đề N Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Mùi Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và áp dụng các căn cứ pháp luật như sau:
1. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Mùi Văn N từ 21 tháng đến 24 tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 01/01/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
2. Về vật chứng vụ án: Áp dụng khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì dán kín. Tại mép dán mặt sau phong bì có dán giấy niêm phong của Công an tỉnh Sơn La. Mặt trước phong bì ghi: “Vật chứng còn lại vụ Mùi Văn N bắt ngày 01/01/2024 (01 mảnh giấy bạc màu vàng, phong bì niêm phong ban đầu)”; 01 phong bì dán kín. Tại mép dán mặt sau phong bì có dán giấy niêm phong của Công an tỉnh Sơn La. Mặt trước phong bì ghi: “Test thử ma túy đối với Mùi Văn N ngày 01/01/2024; KQ: Dương tính”.
3. Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Sau khi Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm xử lý các vấn đề của vụ án. Bị cáo nhất trí với cáo trạng và đề N của đại diện Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Mộc Châu, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo Mùi Văn N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã khai tại cơ quan điều tra, số ma túy bị tổ công tác Công an huyện Mộc Châu thu giữ của bị cáo vào ngày 01/01/2024 có nguồn gốc mua được của một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết 02 viên hồng phiến được gói bằng mảnh giấy bạc màu vàng với giá 100.000 đồng. Lời khai của bị cáo không có nội dung gì thay đổi so với lời khai tại cơ quan Cảnh sát điều tra, bị cáo khẳng định việc khai báo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay là hoàn toàn tự nguyện và đúng với hành vi đã thực hiện.
Xét lời khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; biên bản mở niêm phong, xác định số lượng, khối lượng, lấy mẫu giám định, niêm phong lại vật chứng đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; bản kết luận giám định số 220 ngày 04/01/2024 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: “Mẫu ký hiệu N gửi giám định là ma túy; loại Methamphetamine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,20 gam; Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,20 gam; loại Methamphetamine”. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng trong quá trình điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác của cơ quan điều tra đã thu thập được trong hồ sơ vụ án.
Từ những chứng cứ nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy có đủ căn cứ khẳng định: Ngày 01/01/2024, bị cáo đã có hành vi tàng trữ, cất giấu trái phép 0,20 gam loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu, là đối tượng nghiện chất ma túy, bản thân có 01 tiền án: Ngày 22/02/2011, Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu xử phạt 30 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo khoản 1, 5 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46; khoản 2,3 Điều 30 Bộ luật Hình sự 1999 (đã được xóa án tích). Sau khi trở về địa phương bị cáo không coi đó là bài học để tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức mà còn tiếp tục tái phạm, bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ việc cất giữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm chế độ quản lý chất ma tuý của Nhà nước, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Do vậy, cần quyết định hình phạt nghiêm khắc và phù hợp nhằm răn đe, giáo dục bị cáo, phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là trong quá trình điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, có bố đẻ là người có công với cách mạng. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy quá trình điều tra và thẩm vấn công khai tại phiên tòa hôm nay thấy rằng bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, gia đình không có tài sản gì có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.
Về vật chứng, xử lý vật chứng:
Đối với 01 phong bì dán kín. Tại mép dán mặt sau phong bì có dán giấy niêm phong của Công an tỉnh Sơn La. Mặt trước phong bì ghi: “Vật chứng còn lại vụ Mùi Văn N bắt ngày 01/01/2024 (01 mảnh giấy bạc màu vàng, phong bì niêm phong ban đầu)”; 01 phong bì dán kín. Tại mép dán mặt sau phong bì có dán giấy niêm phong của Công an tỉnh Sơn La. Mặt trước phong bì ghi: “Test thử ma túy đối với Mùi Văn N ngày 01/01/2024; KQ: Dương tính”. Xét thấy đây là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành, vật không có giá trị sử dụng do đó cần tịch thu tiêu hủy.
Về các vấn đề khác:
Đối với người đàn ông dân tộc Mông đã bán ma túy cho Mùi Văn N. Quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ nên không đề cập đến vấn đề xử lý.
Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 N quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Thời hạn tạm giam của bị cáo còn dưới 45 ngày do đó Hội đồng xét xử ra quyết định tạm giam đối với bị cáo 45 ngày để đảm bảo thi hành án hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố bị cáo Mùi Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Mùi Văn N 21 (Hai mươi mốt) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 01/01/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
2. Về vật chứng của vụ án: Căn cứ khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì dán kín. Tại mép dán mặt sau phong bì có dán giấy niêm phong của Công an tỉnh Sơn La. Mặt trước phong bì ghi: “Vật chứng còn lại vụ Mùi Văn N bắt ngày 01/01/2024 (01 mảnh giấy bạc màu vàng, phong bì niêm phong ban đầu)”; 01 phong bì dán kín. Tại mép dán mặt sau phong bì có dán giấy niêm phong của Công an tỉnh Sơn La. Mặt trước phong bì ghi: “Test thử ma túy đối với Mùi Văn N ngày 01/01/2024; KQ: Dương tính”.
3. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 N quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) cho bị cáo Mùi Văn N.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Tòa án tỉnh Sơn La; - Viện KSND huyện Mộc Châu; - Công an huyện Mộc Châu; - Chi cục THADS huyện Mộc Châu; - Trại giam; - THA HS; - Bị cáo; - Sở tư pháp tỉnh Sơn La (khi án có hiệu lực); - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA ( Đã ký) Đỗ Như Khánh THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Như Khánh |