vanban.org

Bản án 76/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình Tuyên án 06/09/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Văn Đ1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phạm Văn Đ1 01 (một) năm tù giam, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 12/6/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 0,0940 gam Heroine và toàn bộ bao gói trong 01 phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 885… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn Đ tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Văn Đ1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN T1
TỈNH T2

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 76/2024/HS-ST
Ngày 06/9/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T1, TỈNH T2

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đồng Ngọc Huyền.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Văn Hiểu.

Bà Tô Thị Hồng Vân.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Phương Thảo, Thư ký Tòa án nhân dân huyện T1, tỉnh T2.

- Đ1 diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T1, tỉnh T2 tham gia phiên tòa: Ông Phạm Quang Huy - Kiểm sát viên.

Trong ngày 06 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T1 tỉnh T2, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 70/2024/TLST-HS ngày 05/8/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 78/2024/QĐXXST-HS ngày 23/8/2024, đối với bị cáo:

Phạm Văn Đ1, sinh ngày 08/12/1988, tại huyện T1, tỉnh T2; nơi cư trú: Thôn AP, xã ĐT, huyện T1, tỉnh T2; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn H và bà Phạm Thị L; bị cáo có vợ là Trần Thị Th và có 02 con, con lớn sinh năm 2019, con nhỏ sinh năm 2020; tiền sự: Không; tiền án: Không; nhân thân: Năm 2012 tham gia nghĩa vụ quân sự đóng quân tại Trường Sĩ quan lục quân 1 đến năm 2013 xuất ngũ về sinh sống tại địa phương; bị tạm giữ từ ngày 12/6/2024 đến ngày 17/6/2024 chuyển tạm giam; hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T1; bị cáo trích xuất, có mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng:

Anh Bùi Văn H, sinh năm 1989, trú tại thôn ĐH, xã NH; anh Hà Văn Th, sinh năm 1994, trú tại thôn Đ, xã TG, đều thuộc huyện T1, tỉnh T2 (đều vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên khoảng 11 giờ 00 phút ngày 12/6/2024 Phạm Văn Đ1 đi bộ từ nhà ra đường, sau đó xin đi nhờ xe của một người không quen biết đến khu vực chân cầu TL thuộc địa phận thôn LP, xã TL, huyện T1, tỉnh T2 để tìm mua ma túy. Tại đây Đ1 gặp một người đàn ông không rõ tên, tuổi, địa chỉ, nghi ngờ người này có ma túy bán, Đ1 hỏi mua 300.000 đồng tiền ma túy loại Heroine, người đàn ông này nhận tiền rồi đưa cho Đ1 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu THĂNG LONG màu vàng, bên trong có 02 gói ma túy loại Heroine có khối lượng 0,1209gam được gói bằng giấy tráng kim màu trắng. Đ1 nhận và cất giấu vào túi áo ngoài bên phải đang mặc rồi đi tìm nơi sử dụng. Khi đi đến đoạn đường khu vực trước cửa Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp xã ĐT, huyện T1, tỉnh T2 thì bị tổ công tác Công an huyện T1 yêu cầu dừng lại để làm việc. Quá trình làm việc Đ1 đã tự giác giao nộp 02 gói ma túy có đặc điểm như đã nêu trên và khai nhận mua về với mục đích để sử dụng cho bản thân. Công an huyện T1 đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản quản lý và niêm phong số vật chứng nói trên vào 1 phong bì thư dán kín theo quy định của pháp luật.

Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Phạm Văn Đ1 tại thôn AP, xã ĐT, huyện T1, tỉnh T2 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T1 không phát hiện, thu giữ gì thêm.

Tại Bản kết luận giám định số 885/KL-KTHS ngày 17/6/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh T2, kết luận: Mẫu vật gửi giám định là ma túy; loại Heroin (Heroine), có tên khoa học là Diacetymorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; có khối lượng 0,1209 gam..

Tại Cáo trạng số 78/CT-VKSTH ngày 05/8/2024, Viện Kiểm sát nhân dân huyện T1, tỉnh T2 quyết định truy tố Phạm Văn Đ1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Đ1 diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa sơ thẩm vẫn giữ nguyên quan điểm như đã truy tố, căn cứ quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự, đề nghị: Tuyên bố bị cáo Phạm Văn Đ1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; xử phạt bị cáo từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Ngoài ra Viện Kiểm sát nhân dân huyện T1 cũng đề nghị xử lý về vật chứng, án phí.

Bị cáo đồng ý với tội danh, hình phạt mà Viện kiểm sát truy tố, không tranh luận gì. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T1, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T1, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Phạm Văn Đ1 đều khai nhận: Khoảng 11 giờ 30 phút, ngày 12/6/2024, tại đoạn đường khu vực trước cửa Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp xã ĐT, huyện T1, tỉnh T2 tổ công tác Công an huyện T1 phát hiện bắt quả tang Phạm Văn Đ1 có hành vi tàng trữ trái phép 02 gói ma túy loại Heroine, có khối lượng 0,1209 gam mục đích để sử dụng cho bản thân.

Lời khai nhận tội của bị cáo Phạm Văn Đ1 phù hợp và được chứng minh bằng: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản khám xét chỗ ở; Biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu và biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; Bản kết luận giám định số 885/KL-KTHS ngày 17/6/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh T2; Biên bản ghi lời khai của người làm chứng và những tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy, bị cáo Phạm Văn Đ1 là người đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 02 gói ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,1209gam, mục đích để sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 249 Bộ luật hình sự. Vì vậy, Viện Kiểm sát nhân dân huyện T1, tỉnh T2 quyết định truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Điều 249: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy:

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c) Hêrôin, côcain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

..............................................................................................................

5.Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản

Đánh giá tính chất, mức độ hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo thấy rằng:

Bị cáo Phạm Văn Đ1 là người sử dụng ma túy, biết tác hại của ma túy đối với sức khỏe con người, đồng thời là nguyên nhân gây ra nhiều tệ nạn khác cho xã hội. Tuy nhiên, bị cáo không chịu tu dưỡng rèn luyện, vẫn sử dụng ma túy và tàng trữ ma túy mục đích để sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đã vi phạm chế độ quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an, hành vi này gây nguy hiểm cho xã hội nên phải xử lý. Cần áp dụng hình phạt tù giam đối với bị cáo để giáo dục bị cáo trở thành người lương thiện. Do bị cáo là người nghiện ma túy, mua ma túy để sử dụng cho bản thân, không có công ăn việc làm và thu nhập ổn định, không có tài sản nên Hội đồng xét xử thấy không cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Hội đồng xét xử cũng xét trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Đ1 đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự, do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. [5] Trong vụ án này: Đối với người bán ma túy cho Đ1, Đ1 khai mua của một người đàn ông không biết tên, tuổi, địa chỉ tại khu vực chân cầu TL, thuộc địa phận thôn LP, xã TL, huyện T1, tỉnh T2, Cơ quan điều tra cảnh sát điều tra Công an huyện T1 đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được người đàn ông đã bán ma túy cho Đ1 để xử lý.

Về vật chứng của vụ án: Đối với 0,0940 gam Heroine và toàn bộ bao gói trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 885/KL-KTHS ngày 17/6/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh T2 là vật nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.

Bị cáo Đ1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47; Điều 50 Bộ luật hình sự. Điểm a khoản 2 Điều 106; Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Văn Đ1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phạm Văn Đ1 01 (một) năm tù giam, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 12/6/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 0,0940 gam Heroine và toàn bộ bao gói trong 01 phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 885/KL-KTHS ngày 17/6/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh T2.

(Toàn bộ vật chứng có đặc điểm mô tả chi tiết trong Biên bản giao, nhận vật chứng, tài sản ngày 05/8/2024 tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện T1, tỉnh T2).

4. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Phạm Văn Đ1 có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án 06/9/2024./.

Cỡ chữ