vanban.org

Bản án 76/2024/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn Luyn.

Buộc ông Ngô Văn Chiến E và bà Nguyễn Thị Nuộng liên đới có trách nhiệm hoàn trả cho ông Nguyễn Văn Luyn số tiền gốc và lãi là 117.417.267 đồng (Trong đó nợ gốc là 65.000.000 đồng, nợ lãi là 52.417.267 đồng). Về nghĩa vụ chậm trả: Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quA… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Nguyễn Văn Luyến "T/c hợp đồng vay tài sản" Ngô Văn Chiến Em, Nguyễn Thị Nuộng"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn Luyn.
  • Căn cứ chính? Điều 172 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 173 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 174 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN TH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH LONG A
Bản án số: 76/2024/DS-ST
Ngày: 23-08-2024
Về việc “TrAh chấp hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DAH

NƯỚC CỘNG H XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN TH -TỈNH LONG A

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Văn Dg

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Nguyễn Vĩnh Lm

2/ Ông Nguyễn Văn Hg

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Quốc Hynh- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Th, tỉnh Long A.

Hôm nay, ngày 23 tháng 08 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Th xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 83/2024/TLST-DS ngày 17 tháng 05 năm 2024 về việc “TrAh chấp hợp đồng vay tày sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 94/2024/QĐXXST- DS ngày 18 tháng 07 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 110/2024/QĐST-DS ngày 05 tháng 08 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn Luyn, sinh năm: 1966 (có mặt);

Địa chỉ: Ấp Hải Hg, xã Nhơn H, huyện Tân Th, tỉnh Long A.

2. Bị đơn: Ông Ngô Văn Chiến E, sinh năm: 1972.

Bà Nguyễn Thị Nuộng, sinh năm 1975.

Địa chỉ: Ấp Hải Hg, xã Nhơn H, huyện Tân Th, tỉnh Long A.

(Nguyên đơn có mặt; Bị đơn vắng mặt không lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và bản tự khai ngày 27-03-2024 nguyên đơn Nguyễn Văn Luyn trình bày: Vào ngày 07- 09- 2019 bà Nguyễn Thị Nuộng cùng chồng là ông Ngô Văn Chiến E có mượn của ông Luyn 50.000.000 đồng và hẹn đến tháng 12 năm 2020 sẻ trả đủ cho ông Luyn. NHg khi đến hẹn ông Luyn có liên hệ nhiều lần với ông Chiến E và bà Nuộng để nhận lại số tiền trên nHg vợ chồng ông Chiến E và bà Nuộng né tránh không trả tiền cho ông Luyn. Ông Luyn có liên hệ với chính quyền địa phương ấp Hải Hg giải quyết thì bà Nuộng và Chiến E cam kết đến tháng 12-2023 sẻ trả đủ cho ông Luyn và đồng thời cam kết sẻ trả lãi cho ông Luyn tính theo lãi suất của Ngân hàng từ ngày mượn đến ngày trả tiền.

Trong khi đó vào ngày 21-08-2023 bà Nuộng có gặp ông Luyn và xin mượn thêm 15.000.000 đồng để trả nợ Ngân hàng chính sách và có cam kết sau một tuần sẻ trả số tiền mượn cùng với 25.000.000 đồng, vợ chồng bà Nuộng, ông Chiến E sẻ trả hết vào tháng 12-2023. NHg khi đến hẹn vợ chồng bà Nuộng, ông Chiến E không thực hiện.

Nay ông Luyn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Tân Th buộc bà Nguyễn Thị Nuộng và ông Ngô Văn Chiến E liên đới có trách nhiệm hoàn trả cho ông Luyn số tiền nợ gốc là 65.000.000 đồng và phải trả lãi theo quy định của Ngân hàng trên số nợ gốc 50.000.000 đồng tính từ ngày 07- 09-2019; số tiền 15.000.000 đồng tính từ 21-08-2023 cho đến nay.

Theo bản tự khai ngày 03-07-2024 bà Nguyễn Thị Nuộng trình bày: Hiện nay vợ chồng bà còn thiếu ông Nguyễn Văn Luyn số tiền 75.000.000 đồng thống nhất trả hàng tháng mỗi tháng trả 15.000.000 đồng trong vòng 5 từ 03-08-2024 tháng đến 03-12-2024

Sau khi thụ lý vụ án Tòa án nhân dân huyện Tân Th tiến hành thông báo thụ lý vụ án, Thông báo phiên hợp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải lần 1 vào ngày 27-05-2024, Thông báo phiên hợp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải lần 2 vào ngày 27-05-2024, Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa đã được niêm yết đầy đủ các văn bản tố tụng theo luật định đúng theo quy định tại Điều 173, 174, 179 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 nHg bà Nguyễn Thị Nuộng, ông Ngô Văn Chiến E cố tình lánh mặt nên Tòa án nhân dân huyện Tân Th tiến hành xét xử theo luật định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả trAh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Vụ kiện trAh chấp “Hợp đồng vay tài sản” giữa ông Nguyễn Văn Luyn với ông Ngô Văn Chiến E và bà Nguyễn Thị Nuộng. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 thuộc thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Tân Th, tỉnh Long A.

Tại phiên tòa hôm nay ông Nguyễn Văn Luyn có thay đổi yêu cầu về tính lãi suất, không rút đơn khởi kiện, ông Luyn tiếp tục yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Tân Th buộc ông Ngô Văn Chiến E và bà Nguyễn Thị Nuộng liên đới hoàn trả cho ông Luyn số tiền 65.000.000 đồng, tính lãi suất 1,66% ( đối với số tiền 50.000.000 đồng tính từ 07-09-2019; 15.000.000 đồng tính từ ngày 21-08-2023 đến ngày xét xử.

Về nội dung vụ án:

Vào ngày 07-09-2019 bà Nguyễn Thị Nuộng cùng chồng là Ngô Văn Chiến E có mượn của ông Nguyễn Văn Luyn 50.000.000 đồng và hẹn đến tháng 12 năm 2020 sẻ trả đủ cho ông Luyn. NHg khi đến hẹn ông Luyn có liên hệ nhiều lần với ông Chiến E và bà Nuộng để nhận lại số tiền trên nHg hai vợ chồng ông Chiến E và bà Nuộng né tránh không trả tiền cho ông Luyn. Ông Luyn có liên hệ với chính quyền địa phương ấp Hải Hg giải quyết thì bà Nuộng và ông Chiến E cam kết đến tháng 12-2023 sẻ trả đủ cho ông Luyn và đồng thời cam kết sẻ trả lãi cho ông Luyn tính theo lãi suất của Ngân hàng từ ngày mượn đến ngày trả tiền.

Vào ngày 21-08-2023 bà Nuộng có gặp ông Luyn và xin mượn thêm 15.000.000 đồng để trả nợ Ngân hàng chính sách và có cam kết sau một tuần sẻ trả số tiền mượn cùng với 50.000.000 đồng tiền mượn trước, hai vợ chồng ông Chiến E và bà Nuộng hứa sẻ trả hết vào tháng 12-2023. NHg khi đến hẹn vợ chồng ông Chiến E và bà Nuộng không thực hiện.

Hiện nay ông Luyn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Tân Th buộc ông ông Chiến E và bà Nuộng liên đới hoàn trả cho ông Luyn số tiền 65.000.000 đồng.

Nguyên đơn có cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện gồm hai biên nhận vay tiền ngày 07-09-2019 có chữ ký xác nhận của ông Ngô Văn Chiến E và bà Nguyễn Thị Nuộng và biên nhận vay ngày 21-08-2023 có chữ ký xác nhận của bà Nguyễn Thị Nuộng. Ông Ngô Văn Chiến E và bà Nguyễn Thị Nuộng đã được tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng của Tòa án từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử nHg vẫn vắng mặt trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án và không có gửi văn bản nêu ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện hiện nay của ông Luyn đã được Tòa án thụ lý, giải quyết theo thông báo thụ lý vụ án số 83/2024/TLST-DS ngày 17 tháng 05 năm 2024. Căn cứ khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự: “2. Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quA chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”. Bà Nguyễn Thị Nuộng cũng đã thừa nhận có nợ tiền ông Luyn như lời trình bày của ông Luyn. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu khởi kiện của ông Luyn về việc yêu cầu ông Ngô Văn Chiến E và bà Nguyễn Thị Nuộng có nghĩa vụ liên đới liên đới hoàn trả cho ông Luyn số tiền là 65.000.000 đồng.

Ông Nguyễn Văn Luyn yêu cầu tính lãi đối số tiền vay ngày 07-09-2019 là 50.000.000 đồng, số tiền vay ngày 21-08-2023 là 15.000.000 đồng cho đến ngày xét xử ngày 23-08-2024, lãi suất 1,66%, yêu cầu này không trái với Điều 468 Bộ luật dân sự 2015 nên được chấp nhận, lãi suất được tính như sau:

- 50.000.000 đồng x 1,66% x 59 tháng 16 ngày (1.786 ngày): 30 ngày thành tiền là 49.412.667 đồng;

-15.000.000 đồng x 1,66% x 12 tháng 02 ngày (362 ngày): 30 ngày thành tiền là 3.004.600 đồng.

Tổng cộng tiền gốc và tiền lãi là 117.417.267 đồng (Trong đó nợ gốc là 65.000.000 đồng, nợ lãi là 52.417.267 đồng).

Như vậy, ông Ngô Văn Chiến E và bà Nguyễn Thị Nuộng liên đới có trách nhiệm hoàn trả cho ông Nguyễn Văn Luyn số tiền gốc và lãi là 117.417.267 đồng (Trong đó nợ gốc là 65.000.000 đồng, nợ lãi là 52.417.267 đồng).

Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu án phí nên được hoàn trả số tiền 2.785.950 đồng tiền tạm ứng án phí theo lai thu số 0003629 ngày 15 tháng 05 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Th. Ông Ngô Văn Chiền E và bà Nguyễn Thị Nuộng phải chịu 5.870.863 đồng để sung công quỹ Nhà nước

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Điều 172, 173, 174, 227, 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Các Điều 288, 357, 463, 466, 468 Bộ luật dân sự 2015;

Áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy BA Thường Vụ Quốc Hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn Luyn.

Buộc ông Ngô Văn Chiến E và bà Nguyễn Thị Nuộng liên đới có trách nhiệm hoàn trả cho ông Nguyễn Văn Luyn số tiền gốc và lãi là 117.417.267 đồng (Trong đó nợ gốc là 65.000.000 đồng, nợ lãi là 52.417.267 đồng).

2. Về nghĩa vụ chậm trả: Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quA thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người thi hành án) cho đến khi thi hành xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch:

3.1. Ông Nguyễn Văn Luyn không phải chịu án phí nên được hoàn trả số tiền 2.785.950 đồng tiền tạm ứng án phí theo lai thu số 0003629 ngày 15- tháng 05 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Th.

3.2. Ông Ngô Văn Chiền E và bà Nguyễn Thị Nuộng phải chịu 5.870.863 đồng để sung công quỹ Nhà nước.

4. Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điểu 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

5. Về kháng cáo: Án xử công khai có mặt nguyên đơn, bị đơn vắng mặt. Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ