vanban.org

Bản án 76/2023/HSST — Hình sự

TAND TP. Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi Tuyên án 29/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 01 (Một) năm 10 (mười) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26/10/2022. Tuyên bố bị cáo Lê Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Tài "Mua bán trái phép chất ma túy" - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI
TỈNH QUẢNG NGÃI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:76/2023/HSST
Ngày 29/6/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI, TỈNH QUẢNG NGÃI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Ly

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đào Kim Kinh.

2. Bà Nguyễn Thị Anh Thư.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Hạ Quyên, là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Mỹ Loan- Kiểm sát viên.

Trong ngày 28 và ngày 29 tháng 6 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 67/2023/TLST-HS ngày 24 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 168/2023/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 6 năm 2023 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Văn T, sinh ngày 03 tháng 11 năm 2004 tại tỉnh Quảng Ngãi; Nơi cư trú: Thôn X, xã T, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Tấn N và bà Thới Thị P; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 27/10/2022 cho đến nay; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Lê Văn H, sinh ngày 27 tháng 7 năm 1995 tại tỉnh Quảng Ngãi; Nơi thường trú: Thôn T, xã Ng, thành phố QNg, tỉnh Quảng Ngãi; nơi ở hiện tại: Tổ 6, phường L, thành phố QNg, tỉnh Quảng Ngãi; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Quang V và bà Nguyễn Thị K; Vợ: Nguyễn Thị P2, con: Lê Thanh Th sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 10/5/2018 bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi xử phạt 02 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” tại Bản án số 51/2018/HSST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 17/8/2019, đã được xóa án tích. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 27/10/2022 cho đến nay; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

3. Lê Trung Th, sinh ngày 10 tháng 01 năm 2005 tại tỉnh Quảng Ngãi; Nơi cư trú: Thôn P, xã Tr, huyện B, tỉnh QNg; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Quang G (chết) và bà Võ Thị L; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 27/10/2022 đến 03/11/2022 cho đến nay; bị cáo được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.

Người đại diện hợp pháp của bị cáo Thành: Bà Võ Thị L sinh năm 1975 (là mẹ đẻ), Nơi cư trú: Thôn P, xã T, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi, bà Lợi có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Thành: Ông Trần Trung H, Trợ giúp viên pháp lý, thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Quảng Ngãi, địa chỉ: Số 63 đường Phan Đình Phùng, thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các T liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ 15 phút ngày 26/10/2022 tại cơ sở Karaoke Hưng Thịnh (địa chỉ: Tổ 3, phường Lê Hồng Phong, thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi) Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Quảng Ngãi kiểm tra, bắt quả tang Nguyễn Văn T, Lê Văn H và Lê Trung Th có hành vi mua bán trái phép chất ma túy, kiểm tra phát hiện trong túi quần phía trước bên trái của T có một gói quấn bang keo đen, bên trong có 02 túi nilon trắng viền xanh chứa tinh thể rắn (các bị cáo khai là ma túy “khay”) và 05 viên nén không rõ hình dạng màu xám (các bị cáo khai là ma túy “kẹo”), các bị cáo khai mang ma túy bán cho một đối tượng không rõ nhân thân, lai lịch với giá 6.500.000 đồng nhưng chưa kịp bán thì bị bắt giữ. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Quảng Ngãi đã khám xét nơi ở của bị cáo Lê Văn H không thu giữ đồ vật, T liệu gì.

Qua đấu tranh, làm việc bị cáo Nguyễn Văn T khai: Lúc hơn 21 giờ cùng ngày, có đối tượng Duy (không xác định được cụ thể họ tên, địa chỉ) gọi điện thoại vào số điện thoại 0349.403.022 của bị cáo, yêu cầu bị cáo tới quán Karaoke Venus lấy ma túy rồi đi giao cho khách ở quán Karaoke Hưng Thịnh, Duy cho bị cáo số điện thoại người mua ma túy để bị cáo liên lạc, sau đó khoảng 22 giờ cùng ngày có số điện thoại số đuôi 7579 gọi cho bị cáo hỏi tới quán Venus chưa thì bị cáo trả lời gần tới, bị cáo đến nơi gặp 02 thanh niên đi trên xe mô tô Sirius, cả ba cùng tới gần quán Karaoke Hưng Thịnh thì đứng lại, người thanh niên đưa 01 gói quấn băng keo đen bên trong chứa ma túy để bị cáo đi giao cho khách mua và nói lấy 6.100.000 đồng, bị cáo cầm ma túy gọi điện vào số người mua báo giá 6.500.000 đồng, mục đích thu lợi 400.000 đồng, hai thanh niên đứng chờ ở ngoài, bị cáo lên phòng giao ma túy cho khách thì bị bắt giữ.

Bị cáo Lê Văn H khai: Khoảng 21 giờ 50 phút ngày 26/10/2022 bị cáo đang ở phòng trọ của mình thì có Duy (không xác định được cụ thể họ tên, địa chỉ) dùng mạng xã hội Zalo theo địa chỉ tên “Cà Na” gọi vào địa chỉ tên “H Lê” của bị cáo nói “Lấy nửa hộp năm ma túy khay và 05 viên ma túy kẹo đưa cho thằng kia”, Duy nói giá nửa hộp khay 2.300.000 đồng, 05 viên ma túy kẹo là 1.500.000 đồng thì bị cáo đồng ý, sau đó Duy yêu cầu bị cáo lấy luôn 01 hộp khay, Duy nhắn cho bị cáo số điện thoại người lấy ma túy (số cuối 022), bị cáo lấy ma túy quấn băng keo đen giấu túi quần rồi nhờ Lê Trung Thành chở đi, bị cáo nói với Thành là chở anh đi đưa đồ cho họ, Thành hiểu là chở đi bán ma túy nên Thành đồng ý, bị cáo liên lạc với người lấy đồ hẹn trước quán Karaoke Venus, gặp nhau rồi cùng qua quán Hưng Thịnh, trên đường đi bị cáo giao ma túy cho người kia và dặn lấy tiền khách 6.100.000 đồng, người này nói chờ trước quán để lên đưa đồ rồi lấy tiền đưa lại bị cáo, sau đó thì tất cả bị bắt.

Bị cáo Lê Trung Th khai: Khoảng hơn 22 giờ 50 phút ngày 26/10/2022, bị cáo H rủ Th đi lấy tiền và Th lấy xe Sirius màu đỏ đen chở H đi, Th biết là chở bị cáo H đi giao ma túy cho người khác. Khi Th và H đến quán Venus gặp một người thanh niên đi xe Dream, Th và H chặn lại, Th thấy bị cáo H đưa cho người thanh niên 01 cục màu đen, bị cáo H nói “lấy 6.100.000 đồng”, người thanh niên nói “đi theo tui để tui cầm đồ và đưa tiền cho”. Khi tới quán Hưng Thịnh, hai bị cáo Th và H đợi ở ngoài còn người thanh niên vào quán giao ma túy thì bị bắt.

Cơ quan điều tra đã tạm giữ đối với bị cáo Nguyễn Văn T: 05 viên nén màu xám không rõ hình dạng (bị cáo T khai là ma túy thuốc lắc); 02 túi nilon màu trắng, viền xanh bên trong 02 túi có chứa các hạt tinh thể màu trắng (bị cáo T khai là ma túy khay); 01 chiếc xe mô tô Honda biển kiểm soát 81K9- 0171 (xe đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng bên trong); tiền ngân hàng Nhà nước Việt Nam số tiền 300.000 đồng; 01 điện thoại di động loại cảm ứng màu đen viền xanh (đã qua sử dụng); 01 cuộn băng keo màu đen.

Cơ quan điều tra đã tạm giữ đối với bị cáo Lê Văn H: 01 điện thoại di động loại cảm ứng, mặt sau có chữ Iphone, máy màu trắng, mặt sau kính vỡ nhiều chỗ (đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng bên trong).

Cơ quan điều tra đã tạm giữ đối với bị cáo Lê Trung Th: 01 xe mô tô màu đỏ đen, trên vỏ xe có dòng chữ Sirius RC mang biển kiểm soát 76D1-45822 (đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng bên trong); 01 điện thoại di động màu đen loại cảm ứng, trên vỏ có dòng chữ Iphone.

Kết luận giám định số 990/KL-KTHS ngày 29/10/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ngãi kết luận: 05 viên nén màu xám bên trong phong bì gửi giám định là ma túy; loại MDMA; khối lượng mẫu 2,01gam; chất rắn dạng tinh thể màu trắng bên trong phong bì gửi giám định là ma túy; loại Ketamine; khối lượng mẫu 1,92 gam. MDMA, Ketamine là chất ma túy nằm trong danh mục IB, III, STT 11, 40 Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

Kết luận giám định số 996/KL-KTHS ngày 29/11/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ngãi kết luận:

Dữ liệu lưu trữ bên trong điện thoại di động loại cảm ứng, màu đen, trên vỏ có dòng chữ Iphone, có số IMEI: 357234097132835; IMEI2: 357234096770072, bên trong thân máy gắn 01 thẻ sim Viettel có dãy số 8984048000065380657, trong thời gian từ ngày 16/10/2022 đến ngày 26/10/2022, bao gồm: Trích xuất được 76 số điện thoại và tên lưu danh bạ; 08 cuộc gọi nhỡ; 02 tin nhắn đến, không có dữ liệu cuộc gọi đi và tin nhắn đi; Số điện thoại của thẻ sim Viettel có dãy số 8984048000065380657 là: 0326170268.

Dữ liệu lưu trữ bên trong điện thoại di động loại cảm ứng, màu trắng, mặt sau có dòng chữ Iphone, có số IMEI: 35673408315095; mặt kính sau bị vỡ, bên trong thân máy gắn 01 thẻ sim Viettel có dãy số 8984048000063899702, trong thời gian từ ngày 16/10/2022 đến ngày 26/10/2022, bao gồm: Trích xuất được 29 số điện thoại và tên lưu danh bạ; 12 cuộc gọi đến; 31 cuộc gọi đi, 84 cuộc gọi nhỡ; 34 tin nhắn đến, 11 tin nhắn đi. Trích xuất được 677 T khoản danh bạ Zalo; 14 cuộc gọi đến, 37 cuộc gọi đi, 16 cuộc gọi nhỡ của Zalo; 610 tin nhắn đến, 576 tin nhắn đi của ứng dụng Zalo; số điện thoại của thẻ sim Viettel có dãy số 8984048000063899702 là 0984217579.

Dữ liệu lưu trữ bên trong điện thoại di động loại cảm ứng, màu đen, viền xanh, trên vỏ có dòng chữ Redmi, có số IMEI: 865805047239286; IMEI2:865805047239294; bên trong thân máy gắn 01 thẻ sim Viettel có dãy số 89840480000300401085 và 01 thẻ sim Vinaphone có dãy số 89840200010579831363, trong thời gian từ ngày 16/10/2022 đến ngày 26/10/2022, bao gồm: Trích xuất được 67 số điện thoại và tên lưu danh bạ; 53 cuộc gọi đến; 64 cuộc gọi đi, 95 cuộc gọi nhỡ; 37 tin nhắn đến, 03 tin nhắn đi. Trích xuất được 60 T khoản danh bạ Zalo; không có dữ liệu cuộc gọi đến, cuộc gọi đi, cuộc gọi nhỡ, nội dung tin nhắn đến, tin nhắn đi của ứng dụng Zalo; số điện thoại của thẻ sim Viettel có dãy số 89840480000300401085 là0349403022; số điện thoại của thẻ sim Vinaphone có dãy số 89840200010579831363 là: 0944146577.

Tại Bản Cáo trạng số 76/CT-VKS ngày 14/4/2023 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T, Lê Văn H, Lê Trung Th về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38, Điều 91, Điều 101, Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 22 đến 27 tháng tù giam;

Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Lê Văn H từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù giam;

Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 91, Điều 101, Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Lê Trung Th từ 18 đến 22 tháng tù giam.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu, tiêu hủy số ma túy cùng toàn bộ vỏ bao gói bên trong phong bì số 990/KHHS(GĐ-2022) của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ngãi. Phong bì đã được niêm phong, trên giáp lai có hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ngãi cùng chữ ký của các ông Huỳnh Minh Nhựt, Đường Kim Khải, 01 cuộn băng keo đen. Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại loại cảm ứng, màu đen, viền xanh được bỏ trong 01 túi niêm phong dán kín có mã số PS3 2009492, bên ngoài đóng hình dấu niên phong của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ngãi và có chữ ký, họ tên của giám định viên, 01 điện thoại di động loại cảm ứng, màu trắng, mặt sau có dòng chữ Iphone, mặt kính sau bị vỡ được bỏ trong 01 túi niêm phong dán kín có mã số PS3 2009491, bên ngoài đóng hình dấu niên phong của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ngãi và có chữ ký, họ tên của giám định viên. Trả lại 01 điện thoại di động loại cảm ứng màu đen, trên vỏ có dung chữ “Iphone” được bỏ trong 01 túi niêm phong dán kín có mã số PS3 2009494, bên ngoài đóng hình dấu niên phong của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ngãi và có chữ ký, họ tên của giám định viên cho bị cáo Lê Trung Th (Tất cả vật chứng trên có tại Biên bản về việc giao nhận vật chứng, T sản ngày 24/4/2023 giữa Công an thành phố Quảng Ngãi và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi).

Trả lại số tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam là 300.000 đồng thu của bị cáo Nguyễn Văn T do không liên quan đến hành vi phạm tội có tại Ủy nhiệm chi lập ngày 21/4/2023 của Công an thành phố Quảng Ngãi nộp vào T khoản số 3949.0.9043031.00000 của Công an thành phố Quảng Ngãi tại Kho bạc nhà nước tỉnh Quảng Ngãi. Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda biển kiểm soát 81 K9-0171 và xe mô tô màu đỏ đen, trên xe có dòng chữ Sirius RC biển kiểm soát 76D1-45822 qua xác minh, tra cứu thì Cơ quan điều tra xác định hai xe trên không thuộc tang vật vụ án nào khác, tuy nhiên chưa xác định được nguồn gốc chủ sỡ hữu hợp pháp nên Cơ quan điều tra tách hai xe này ra khỏi vụ án để tiếp tục xác minh, đề nghị xử lý sau.

Tại phiên tòa, người bào chữa cho bị cáo Lê Trung Th: Thống nhất bản Cáo trạng và đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh bị cáo không có sự chăm sóc của cha từ nhỏ, khi phạm tội chưa đủ 18 tuổi nên cho bị cáo hưởng mức án từ 18 tháng đến 22 tháng tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các T liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Quảng Ngãi, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi đã truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố và các T liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án nên có cơ sở để xác định: Khoảng 22 giờ 15 phút ngày 26/10/2022, Cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố Quảng Ngãi bắt quả tang các bị cáo có hành vi mua bán trái phép chất ma túy 05 viên nén màu xám bên trong phong bì gửi giám định là ma túy, loại MDMA, khối lượng mẫu 2,01gam, chất rắn dạng tinh thể màu trắng bên trong phong bì gửi giám định là ma túy, loại Ketamine, khối lượng mẫu 1,92 gam.

Theo quy định khoản 2 Điều 5 Nghị định 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ về quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích ma túy tại một số điều của Bộ luật hình sự năm 2015 thì Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận các bị cáo phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi truy tố bị cáo về tội danh và hình phạt là có căn cứ.

Tính chất, mức độ của hành vi: Các bị cáo nhận thức được hành vi mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng do hám lợi nên bị cáo đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy mà còn gây ảnh hưởng đến sức khỏe của bản thân, của cộng đồng và là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác, gây mất trật tự an toàn xã hội nên cần phải được xử lý nghiêm để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung loại tội phạm này. Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi của mình, thống nhất với Cáo trạng truy tố và hình phạt theo đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, hai bị cáo H và Th thống nhất ý chí cùng đi mua bán trái phép chất ma túy, không có ai xúi giục hay kích động các bị cáo phạm tội.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Các bị cáo có tình tiết giảm nhẹ người thân có công cách mạng. Các bị cáo T, Thành khi phạm tội chưa đủ 18 tuổi nên cân nhắc khi lượng hình phù hợp.

Đối với đối tượng Duy và đối tượng Tí, do các khai không đủ thông tin về thân thân lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Quảng Ngãi cần tiếp tục xác minh, khi nào có kết quả sẽ xử lý sau.

Về xử lý vật chứng:

Đối với số ma túy bao gồm 1,82 gam mẫu ma túy, loại Ketamine và 1,94 gam mẫu ma túy, loại MDMA cùng toàn bộ vỏ bao gói bên trong phong bì số 990/KHHS(GĐ-2022) của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ngãi. Phong bì đã được niêm phong, trên giáp lai có hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ngãi cùng chữ ký của các ông Huỳnh Minh Nhựt, Đường Kim Khải là vật cấm tang trữ, lưu hành và 01 cuộn băng keo đen không có giá trị cần tịch thu, tiêu hủy theo quy định tại điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Đối với 01 điện thoại loại cảm ứng, màu đen, viền xanh được bỏ trong 01 túi niêm phong dán kín có mã số PS3 2009492, bên ngoài đóng dấu niên phong của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ngãi và có chữ ký, họ tên của giám định viên, 01 điện thoại di động loại cảm ứng, màu trắng, mặt sau có dòng chữ Iphone, mặt kính sau bị vỡ được bỏ trong 01 túi niêm phong dán kín có mã số PS3 2009491, bên ngoài đóng hình dấu niên phong của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ngãi và có chữ ký, họ tên của giám định viên là công cụ, phương tiện các bị cáo dung vào việc phạm tội nên cần tịch thu, nộp ngân sách nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Đối với 01 điện thoại di động loại cảm ứng màu đen, trên vỏ có dung chữ “Iphone” được bỏ trong 01 túi niêm phong dán kín có mã số PS3 2009494, bên ngoài đóng hình dấu niên phong của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ngãi và có chữ ký, họ tên của giám định viên của bị cáo Lê Trung Th cần trả lại cho bị cáo Th do không phải vật chứng trong vụ án theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

(Tất cả vật chứng trên có tại Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 24/4/2023 giữa Công an thành phố Quảng Ngãi và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi).

Đối với số tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam là 300.000 đồng thu của bị cáo Nguyễn Văn T, do không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo T theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự có tại Ủy nhiệm chi lập ngày 21/4/2023 của Công an thành phố Quảng Ngãi nộp vào tài khoản số 3949.0.9043031.00000 của Công an thành phố Quảng Ngãi tại Kho bạc nhà nước tỉnh Quảng Ngãi. Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda biển kiểm soát 81 K9-0171 thu của bị cáo Nguyễn Văn T và xe mô tô màu đỏ đen, trên xe có dòng chữ Sirius RC biển kiểm soát 76D1-45822 thu của bị cáo Lê Trung Th qua xác minh, tra cứu thì Cơ quan điều tra xác định hai xe trên không thuộc tang vật vụ án nào khác, tuy nhiên qua tra cứu trên hệ thống phương tiện giao thông cơ giới đường bộ xác định xe 76D1-45822 thuộc sở hữu của bà Lương Thị T sinh năm 1977, hộ khẩu thường trú: Thôn H, xã T, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi nhưng Cơ quan điều tra không làm việc được với bà Trang nên chưa xác định được nguồn gốc chủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe này nên Cơ quan điều tra tách hai xe này ra khỏi vụ án để tiếp tục xác minh, đề nghị xử lý sau.

Đối với chiếc xe 81 K9-0171 qua tra cứu trên hệ thống phương tiện giao thông cơ giới đường bộ xác định xe 81 K9-0171 thuộc sở hữu của ông Huỳnh Văn H, địa chỉ: Hẻm 231 đường L, thành phố P, tỉnh Gia Lai nhưng tại địa chỉ trên Công an thành phố Pleiku cho biết không có người nào tên Huỳnh Văn H sinh sống và cũng không biết người này đang ở đâu nên không làm việc được, không xác định được nguồn gốc chủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe này nên Cơ quan điều tra tách xe này ra khỏi vụ án để tiếp tục xác minh, đề nghị xử lý sau.

Đề nghị của Kiểm sát viên về phần tội danh, hình phạt, về xử lý vật chứng là phù hợp nên được chấp nhận.

Đề nghị của người bào chữa cho bị cáo Th về phần hình phạt đối với bị cáo Thành là phù hợp nên được ghi nhận.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38, Điều 91, Điều 101, Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 01 (Một) năm 10 (mười) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26/10/2022.

Căn cứ khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1,2 Điều 51, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo Lê Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Lê Văn H 03 (Ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26/10/2022.

Căn cứ khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 91, Điều 101, Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo Lê Trung Th phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Lê Trung Th 01 (Một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi chấp hành án trừ thời gian tạm giữ từ ngày 27/10/2022 đến 03/11/2022.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu, tiêu hủy số ma túy cùng toàn bộ vỏ bao gói bên trong phong bì số 990/KHHS(GĐ-2022) của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ngãi. Phong bì đã được niêm phong, trên giáp lai có hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ngãi cùng chữ ký của các ông Huỳnh Minh Nhựt, Đường Kim Khải, 01 cuộn băng keo đen.

Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại loại cảm ứng, màu đen, viền xanh được bỏ trong 01 túi niêm phong dán kín có mã số PS3 2009492, bên ngoài đóng hình dấu niên phong của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ngãi và có chữ ký, họ tên của giám định viên, 01 điện thoại di động loại cảm ứng, màu trắng, mặt sau có dòng chữ Iphone, mặt kính sau bị vỡ được bỏ trong 01 túi niêm phong dán kín có mã số PS3 2009491, bên ngoài đóng hình dấu niên phong của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ngãi và có chữ ký, họ tên của giám định viên.

Trả lại 01 điện thoại di động loại cảm ứng màu đen, trên vỏ có dung chữ “Iphone” được bỏ trong 01 túi niêm phong dán kín có mã số PS3 2009494, bên ngoài đóng hình dấu niên phong của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ngãi và có chữ ký, họ tên của giám định viên cho bị cáo Lê Trung Thành (Tất cả vật chứng trên có tại Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 24/4/2023 giữa Công an thành phố Quảng Ngãi và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi).

Trả lại số tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam là 300.000 đồng thu của bị cáo Nguyễn Văn T do không liên quan đến hành vi phạm tội có tại Ủy nhiệm chi lập ngày 21/4/2023 của Công an thành phố Quảng Ngãi nộp vào tài khoản số 3949.0.9043031.00000 của Công an thành phố Quảng Ngãi tại Kho bạc nhà nước tỉnh Quảng Ngãi.

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, buộc các bị cáo phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. * Nơi nhận:

Cỡ chữ