- Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Văn T đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Võ Văn T phạm tội: Đánh bạc.
- Căn cứ chính? Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN MANG THÍT | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH VĨNH LONG Bản án số: 76/2023/HS-ST Ngày 02- 11-2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT, TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Trƣơng Tấn Đồng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Phẩm
Ông Lê Thành Tam
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Hoàng Cúc, là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít tham gia phiên tòa: Ông Trần An Khƣơng - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 11 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 65/2023/HS-ST ngày 28 tháng 9 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 71/2023/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo:
Võ Văn T, sinh năm 1980 tại xã LM, huyện TB, tỉnh Vĩnh Long. Nơi thường trú ấp TH1, xã LM, huyện TB, tỉnh Vĩnh Long; chổ ở hiện nay ấp TH, xã TL, huyện M, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: Thợ hàn; trình độ văn hóa (học vấn) lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn T1 và bà Nguyễn Thị H; có vợ và 01 con; tiền án: không; tiền sự: 02 tiền sự. Ngày 02/02/2022, bị Công an xã LM, huyện TB, tỉnh Vĩnh Long xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc số tiền 1.500.000 đồng và ngày 14/02/2022, bị Công an huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc số tiền 1.500.000 đồng; nhân thân: chưa có án tích, đã bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật; bị cáo tại ngoại (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Trần Thị H1, sinh năm 1962; địa chỉ cư trú ấp TH, xã TL, huyện M, tỉnh Vĩnh Long (có mặt).
2. Lê Văn H2, sinh năm 1958; địa chỉ cư trú ấp TH, xã TL, huyện M, tỉnh Vĩnh Long (có mặt).
3. Nguyễn Thị Bích V, sinh năm 1978; địa chỉ cư trú ấp AH, xã LA, huyện LH, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Võ Văn T là người đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc, nhưng không biết ăn năn hối cải mà tiếp tục vi phạm.
Vào lúc khoảng 12 giờ 30 phút, ngày 17/3/2023 bị cáo T điện thoại cho mẹ vợ là bà H1, cách nhà T khoảng 30 mét nhờ qua giữ nhà và giữ cháu để T đi làm. Đến khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, bà H1 đi bộ qua nhà T; đến khoảng 14 giờ cùng ngày, chồng của bà H1 là ông H2 cũng đến nhà T cùng bà H1 giữ nhà và giữ cháu. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, bà H1 rủ ông H2 đánh bài tứ sắc thắng thua bằng tiền. Bà H1 lấy tấm bạt màu xám, trải xuống nền nhà ở khu vực nhà bếp rồi cùng ông H2 đánh bài. Hình thức đánh bài tứ sắc như sau: Người nào thắng trơn thì người còn lại phải trả 5.000 đồng, người nào thắng quan thì người còn lại phải trả 10.000 đồng. Khi bà H1 và ông H2 đánh bài được khoảng 15 ván, lúc này khoảng 18 giờ cùng ngày, chị V đến nhà T chơi. Sau đó, bà H1 và ông H2 rủ V đánh bạc thắng thua bằng tiền thì V đồng ý và cùng vào tham gia.
Đến khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, T đi làm về nhà, bà H1 và ông H2 rủ T vào đánh bạc thắng thua bằng tiền thì T cũng vào tham gia. Khi T vào đánh bài được khoảng 06 ván thì bị lực lượng Công an xã TL, huyện M, tỉnh Vĩnh Long đến kiểm tra và lập biên bản sự việc đánh bài thắng thua bằng tiền đối với các đối tượng trên.
Tang vật và đồ vật thu giữ gồm:
- Tiền tang trên chiếu bạc: 1.000.000 đồng;
- 336 (ba trăm ba mươi sáu) lá bài tứ sắc, đã qua sử dụng;
- 05 (năm) bộ bài tứ sắc chưa qua sử dụng;
- 01 (một) tấm bạt màu xám cũ, đã qua sử dụng;
- Tiền Việt Nam 800.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu Vivo 1906, màu xanh, thu trên người của bị cáo T;
- 01 diện thoại di động hiệu REDMI, màu xanh, thu trên người của V và 01 xe môtô biển số 53V7 – 4049.
Qua làm việc với T, H1, H2 và V đã thừa nhận hành vi đánh bạc (đánh bài tứ sắc) thắng thua bằng tiền của mình. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mang Thít đã chứng minh các đối tượng đánh bạc cụ thể như sau:
- Bị cáo Võ Văn T khi tham gia đánh bạc, T có mang theo số tiền 870.000 đồng, sử dụng 70.000 đồng để đánh bạc. Khi bị lập biên bản sự việc, T thua hết 50.000 đồng, bỏ tại chiếu bạc 20.000 đồng và bị tạm giữ số tiền 800.000 đồng;
- Trần Thị H1 khi tham gia đánh bạc, H1 có mang theo số tiền 400.000 đồng, sử dụng 400.000 đồng để đánh bạc. Khi bị lập biên bản sự việc H1 không thắng không thua và bỏ tại chiếu bạc 400.000 đồng;
- Lê Văn H2 khi tham gia đánh bạc, H2 có mang theo số tiền 150.000 đồng, sử dụng 150.000 đồng để đánh bạc. Khi bị lập biên bản sự việc H2 thắng được 100.000 đồng và bỏ tại chiếu bạc 250.000 đồng;
- Nguyễn Thị Bích V khi tham gia đánh bạc, V có mang theo số tiền 380.000 đồng, sử dụng 380.000 đồng để đánh bạc. Khi bị lập biên bản sự việc V thua 50.000 đồng và bỏ tại chiếu bạc 330.000 đồng.
Ngày 22/3/2023, Công an xã TL, huyện Mang Thít ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính các đối tượng T, H1, H2 và V mỗi đối tượng số tiền 1.500.000 đồng.
Qua quá trình kiểm tra, xác minh xét thấy hành vi đánh bạc trái phép của T đủ yêu tố cấu thành tội phạm tội đánh bạc. Ngày 27/6/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mang Thít đề nghị Trưởng Công an xã TL ra Quyết định hủy bỏ quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với T.
Ngày 29/6/2023, bị cáo T bị khởi tố về tội đánh bạc.
Về tang vật và đồ vật thu giữ gồm:
- 01 (một) tấm bạt màu xám cũ, đã qua sử dụng. Đây là công cụ dùng để đánh bạc. Công an xã TL đã tiến hành tịch thu tiêu hủy xong.
- 01 điện thoại di động hiệu REDMI, màu xanh và 01 xe môtô biển số 53V7 – 4049 đã chứng minh đây là tài sản của V, không có liên quan đến vụ án, Công an xã TL đã trả lại cho V xong.
- Tiền Việt Nam 800.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu Vivo 1906, màu xanh, cũ đã qua sử dụng, đã chứng minh đây là tài sản của T, không có liên quan đến vụ án, Công an xã TL đã trả lại cho T xong.
- Tiền tang trên chiếu bạc: 1.000.000 đồng. Cơ quan điều tra đã chứng minh tiền của T là 20.000 đồng, H1 400.000 đồng, H2 250.000 đồng và V 330.000 đồng. Đây là tiền dùng để đánh bạc nên tiếp tục tạm giữ chờ xử lý.
- 336 (ba trăm ba mươi sáu) lá bài tứ sắc, đã qua sử dụng và 05 (năm) bộ bài tứ sắc chưa qua sử dụng. Đây là công cụ để thực hiện hành vi phạm tội nên tiếp tục tạm giữ chờ xử lý.
Đối với các đối tượng H1, H2 Và V hành vi chưa cấu thành tội phạm nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mang Thít đã xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật.
Tại Cáo trạng số: 67/CT-VKS.HMT ngày 27 tháng 9 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít truy tố bị cáo Võ Văn T phạm tội: Đánh bạc, theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên nội dung Cáo trạng và đề nghị áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; Điều 36; Điều 47; các điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; các Điều 106 và Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án. Đề nghị tuyên bố bị cáo Võ Văn T phạm tội: Đánh bạc và đề nghị xử phạt bị cáo từ 09 tháng đến 01 năm cải tạo không giam giữ. Phạt bổ sung bị cáo số tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng. Về vật chứng đề nghị tịch thu tiêu hủy 336 lá bài tứ sắc đã qua sử dụng và 05 bộ bài tứ sắc chưa sử dụng; tịch thu để sung vào ngân sách Nhà nước số tiền tang trên chiếu bạc là 1.000.000 đồng. Về án phí buộc bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận mình có tội và không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên toà, bị cáo Võ Văn T khai nhận: Bị cáo là người đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc. Vào lúc khoảng 19 giờ 30 phút ngày 17/3/2023, tại nhà của bị cáo thuộc ấp TH, xã TL, huyện M, tỉnh Vĩnh Long. Bị cáo có tham gia đánh bạc (đánh bài tứ sắc) thắng thua bằng tiền với các đối tượng H1, H2 và V, với tổng số tiền dùng để đánh bạc là 1.000.000 đồng.
Xét; lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với nội dung cáo trạng và lời buộc tội của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà, phù hợp với biên bản về việc đánh bạc (đánh bài thắng thua bằng tiền), lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, vật chứng và phù hợp với các chứng cứ khác đã thu thập được trong quá trình điều tra vụ án. Đã có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận: Võ Văn T phạm tội: Đánh bạc, theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến trật tự công cộng ở địa phương, bị cáo không tích cực lao động để có thu nhập hợp pháp mà dùng hình thức đánh bạc để tước đoạt tiền của người khác một cách trái pháp luật. Đánh bạc là một tệ nạn xã hội thường dẫn đến các hậu quả nghiêm trọng khác như trộm cắp, gây thương tích, cướp tài sản …vì thế, để đấu tranh ngăn chặn tệ nạn này không để tái diễn trong xã hội, giữ gìn trật tự công cộng, bảo vệ tính mạng, sức khỏe và tài sản của công dân. Bị cáo là người đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc nhưng không biết ăn năn hối cải. Vì vậy cần xử phạt bị cáo một mức hình phạt nghiêm để giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.
Tuy nhiên, xét bị cáo sau khi phạm đã thành khẩn khai báo; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Nên xem đây là các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo khi quyết định hình phạt.
Cần phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng:
- Đối với số tiền tang trên chiếu bạc 1.000.000 đang tạm giữ. Xét đây là số tiền mà bị cáo T và các đối tượng H1, H2 và V sử dụng vào việc đánh bạc nên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
- Đối với 336 (ba trăm ba mươi sáu) lá bài tứ sắc, đã qua sử dụng và 05 (năm) bộ bài tứ sắc chưa sử dụng. Xét đây là công cụ để thực hiện hành vi phạm tội và không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
Xét, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên chấp nhận.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1, khoản 3 Điều 321; Điều 36; Điều 47 và các điểm i, s khoản 1 Điều 51của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; các Điều 106 và Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án.
Tuyên bố bị cáo Võ Văn T phạm tội: Đánh bạc.
1. Phạt bị cáo Võ Văn T 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn chấp hành hình phạt được tính kể từ ngày Ủy ban nhân dân xã TL, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Giao bị cáo Võ Văn T cho Ủy ban nhân dân xã TL, huyện M, tỉnh Vĩnh Long giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã TL, huyện M, tỉnh Vĩnh Long trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
2. Phạt bổ sung bị cáo Võ Văn T số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng)
3. Về vật chứng:
3.1 Tịch thu tiêu hủy: 336 (ba trăm ba mươi sáu) lá bài tứ sắc, đã qua sử dụng và 05 (năm) bộ bài tứ sắc chưa sử dụng.
3.2 Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: Số tiền 1.000.000 đồng (một triệu đồng).
(Vật chứng trên hiện nay Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mang Thít đang quản lý, theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu vật chứng ngày 03/10/2023 và Lệnh thanh toán ngày 03/10/2023).
4. Án phí: Buộc bị cáo Võ Văn T phải chịu số tiền 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định, được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được qui định theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Báo cho biết có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.
Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Nguyễn Thị Bích V vắng mặt. Báo cho biết có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Vĩnh Long; -VKSND tỉnh Vĩnh Long; - Công an tỉnh Vĩnh Long; - Sở tư pháp tỉnh Vĩnh Long; - VKSND huyện Mang Thít; - Công an huyện Mang Thít; - Chi cục THADS huyện Mang Thít; - UBND, CA xã TL; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Trƣơng Tấn Đồng |