- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thị S, Trương Thị Tuyết N, Trần Thị Diệu H, Hứa Thị Ngọc T phạm tội “Đánh bạc”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 76/2023/HS-ST Ngày: 01/03/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Chi
2. Bà Nguyễn Hương Thủy
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Quang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên toà:
+ Tại điểm cầu trung tâm: Ông Lê Phong – Kiểm sát viên
+ Tại điểm cầu thành phần: Ông Đặng Văn Quý - Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 3 năm 2023, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 41/2023/HSST ngày 17 tháng 01 năm 2023 theo hình thức trực tuyến, gồm 02 điểm cầu: Điểm cầu trung tâm đặt tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, điểm cầu thành phần đặt tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Thủ Đức; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/2023/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 02 năm 2023, đối với các bị cáo:
1/ Hứa Thị Ngọc T; Giới tính: Nữ; sinh năm: 1975 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: H, tổ L, khu phố G, phường Hiệp Phú, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: đường H, khu phố K, phường G, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Học vấn: 5/12; Nghề nghiệp: Nội trợ; Họ tên cha: Nguyễn Văn S, sinh năm: 1956; Họ tên mẹ: Hứa Thị Kim O, sinh năm: 1960; Chồng: Mai Anh T, sinh năm: 1975; Con: Có 02 người, lớn sinh năm 2003, nhỏ sinh năm 2004; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị giam từ ngày 03/10/2022. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2/ Trương Thị Tuyết N; Giới tính: Nữ; sinh năm: 1962 tại: Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 69 đường 494, tổ 8, khu phố 4, phường Tăng Nhơn Phú A, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: 69 đường 494, tổ 8, khu phố 4, phường Tăng Nhơn Phú A, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Học vấn: 4/12 Nghề nghiệp: Nội trợ; Họ tên cha: Trương Văn Ngô (chết); Họ tên mẹ: Võ Thị Lệ (chết); Chồng: Lê Minh T, sinh năm: 1962; Con: Có 02 người, lớn sinh năm 1987, nhỏ sinh năm 1989; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị giam từ ngày 03/10/2022. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
3/ Nguyễn Thị S; Giới tính: Nữ; sinh năm: 1969 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: khu phố K, phường H, thành phố H, TP.HCM; Nơi cư trú: khu phố K, phường H, thành phố H, TP.HCM; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Học vấn: 9/12 Nghề nghiệp: Nội trợ; Họ tên cha: Nguyễn Văn N, sinh năm:1933 (chết); Họ tên mẹ: Nguyễn Thị B, sinh năm:1931 (chết); Chồng: Võ N, sinh năm: 1955; Con: Có 02 người, lớn sinh năm 1990, nhỏ sinh năm 1991; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị giam từ ngày 03/10/2022. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
4/ Trần Thị Diệu H; Giới tính: Nữ, sinh năm: 1977, Tại: Bình Thuận; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: H, khu phố J phường F, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Nơi cư trú: Không nơi cư trú nhất định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: Thợ may; Họ tên cha: Trần Lữ H, sinh năm:1941; Họ tên mẹ : Nguyễn Thị H, sinh năm: 1953 Chồng: Không có; Con: Lê Trần Gia B, sinh năm 2007; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị giam từ ngày 03/10/2022. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 03/10/2022, Nguyễn Thị S, Trương Thị Tuyết N, Trần Thị Diệu H rủ nhau đến nhà của Hứa Thị Ngọc T tại địa chỉ số 92, đường 494, khu phố 4, phường Tăng Nhơn Phú A, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh để đánh bạc bằng hình thức đánh bài “Tứ sắc” thắng thua bằng tiền với T với hình thức: Sử dụng bộ bài tứ sắc 112 lá chia đều cho 04 người mỗi người 20 lá, người nào chia bài thì 21 lá số bài còn lại sử dụng để rút. Trước khi vào chơi mỗi người sẽ đậu (đặt) ra 600.000 đồng và bắt đầu chơi, khi có một người thua hết số tiền này thì cả 04 người sẽ đậu (đặt) 600.000 đồng mới và đánh tiếp. Người nào tới (thắng) Trơn (bài đã đánh hết lá lẻ) thì thắng của 03 người còn lại mỗi người 40.000 đồng, người nào tới (thắng) Quan (bài đã đánh hết lá lẻ và có 04 lá cùng màu giống nhau) thì thắng của 03 người còn lại mỗi người 60.000 đồng. Khi người nào tới (thắng) Quan thì bỏ ra 10.000 đồng tiền xâu cho Thu là chủ nhà. Hình thức ăn thua được tính theo ván và không tính chến.
Đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, Hứa Thị Ngọc T, Nguyễn Thị S, Trương Thị Tuyết N, Trần Thị Diệu H đang cùng nhau đánh bạc thì bị đội Cảnh sát hình sự Công an thành phố Thủ Đức bắt quả tang.
Tại Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố Thủ Đức, Hứa Thị Ngọc T, Nguyễn Thị S, Trương Thị Tuyết N, Trần Thị Diệu H khai nhận như sau:
Hứa Thị Ngọc T khai nhận: Khi tham gia đánh bạc thì T mang theo số tiền 5.990.000 đồng dùng vào mục đích đánh bạc, T thua 1.240.000 đồng, còn lại 4.950.000 đồng (bao gồm 200.000 đồng tiền xâu). Khi bị bắt thu giữ số tiền 4.950.000 đồng.
Nguyễn Thị S khai nhận: Khi tham gia đánh bạc S mang theo 2.960.000 đồng, sử dụng số tiền 2.960.000 đồng để đánh bạc và thắng 370.000 đồng. Khi bị bắt thu giữ số tiền 3.330.000 đồng.
Trương Thị Tuyết N khai nhận: Khi đi đánh bạc N mang theo 2.940.000 đồng, sử dụng số tiền 2.940.000 đồng để đánh bạc và thắng 310.000 đồng. Khi bị bắt thu giữ số tiền 3.250.000 đồng.
Trần Thị Diệu H khai nhận: Khi đi đánh bạc H mang theo 1.200.000 đồng, sử dụng số tiền 1.200.000 đồng để đánh bạc và thắng 360.000 đồng. Khi bị bắt thu giữ số tiền 1.560.000 đồng
Vật chứng vụ án:
- Thu giữ: 13.090.000 đồng; Trong đó: 1.390.000 đồng tiền thu trên chiếu bạc (T: 300.000 đồng, S: 370.000 đồng, N: 310.000 đồng, H: 410.000 đồng) và 11.700.000 đồng tiền thu trong người của các đối tượng sử dụng để đánh bạc (T: 4.650.000 đồng, S: 2.960.000 đồng, N: 2.940.000 đồng, H: 1.150.000 đồng).
- 05 (năm) bộ bài tứ sắc đã qua sử dụng.
- 12 (mười hai) bộ bài tứ sắc chưa sử dụng.
- 01 (một) tấm vải màu xanh, kích thước 80cm x 80cm.
Cáo trạng số: 64/CT-VKSTPTĐ ngày 16 tháng 01 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức truy tố: Nguyễn Thị S, Trương Thị Tuyết N, Trần Thị Diệu H, Hứa Thị Ngọc T về tội “Đánh bạc” theo khoản 1, Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
Các bị cáo Nguyễn Thị S, Trương Thị Tuyết N, Trần Thị Diệu H, Hứa Thị Ngọc T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đã truy tố, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo Nguyễn Thị S, Trương Thị Tuyết N, Trần Thị Diệu H, Hứa Thị Ngọc T về tội “Đánh bạc”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị S, Trương Thị Tuyết N, Trần Thị Diệu H mỗi bị cáo mức án từ 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù. Xử phạt bị cáo Hứa Thị Ngọc T với mức án từ 09 (chín) tháng đến 01 (một) năm tù.
Vật chứng vụ án: Đề nghị tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 13.090.000 đồng; tịch thu tiêu hủy: 05 (năm) bộ bài tứ sắc đã qua sử dụng; 12 (mười hai) bộ bài tứ sắc chưa sử dụng; 01 (một) tấm vải màu xanh, kích thước 80cm x 80cm.
Các bị cáo không có ý kiến tranh luận với bản luận tội.
Các bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Đức, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Thị S, Trương Thị Tuyết N, Trần Thị Diệu H, Hứa Thị Ngọc T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của các bị cáo là khách quan, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang và các chứng cứ, tang vật khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 03/10/2022, Nguyễn Thị S, Trương Thị Tuyết N, Trần Thị Diệu H, Hứa Thị Ngọc T đánh bạc bằng hình thức đánh bài “Tứ sắc” thắng thua bằng tiền, tại nhà số 92, đường 494, khu phố 4, phường Tăng Nhơn Phú A, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh thì bị Công an thành phố Thủ Đức bắt quả tang. Đây là vụ án đánh bạc thuộc trường hợp nhiều người cùng tham gia đánh bạc với nhau, tổng số tiền dùng để đánh bạc là 13.090.000 đồng. Như vậy có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Thị S, Trương Thị Tuyết N, Trần Thị Diệu H, Hứa Thị Ngọc T đã phạm vào tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Lời khai của các bị cáo đã thống nhất với tội danh và điều luật mà đại diện Viện kiểm sát đã truy tố và luận tội đối với các bị cáo. Như vậy, nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét đây là vụ án đồng phạm nhưng mang tính chất giản đơn, tính chất mức độ phạm tội cũng như vai trò giữa các bị cáo là ngang nhau.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng, nếp sống văn minh của xã hội, đánh bạc trái phép là tệ nạn xã hội, cũng là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác. Các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là sai trái nhưng vẫn cố tình thực hiện. Tuy nhiên, cũng xét, các bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, khi quyết định hình phạt, căn cứ Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, cần áp dụng khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định khung hình phạt phải áp dụng; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, để có hình phạt tù tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Số tiền 13.090.000 đồng, đây là số tiền dùng để đánh bạc, nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước; Đối với 05 (năm) bộ bài tứ sắc đã qua sử dụng; 12 (mười hai) bộ bài tứ sắc chưa sử dụng; 01 (một) tấm vải màu xanh, kích thước 80cm x 80cm, đây là công cụ phạm tội không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thị S, Trương Thị Tuyết N, Trần Thị Diệu H, Hứa Thị Ngọc T phạm tội “Đánh bạc”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị S 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 03/10/2022.
Xử phạt bị cáo Trương Thị Tuyết N 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 03/10/2022.
Xử phạt bị cáo Trần Thị Diệu H 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 03/10/2022.
Xử phạt bị cáo Hứa Thị Ngọc T 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 03/10/2022.
2. Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền: 13.090.000 đồng (Theo Giấy nộp tiền số 19582857 ngày 13/01/2023, đơn vị nộp tiền Công an thành phố Thủ Đức, đơn vị nhận tiền Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức).
Tịch thu, tiêu hủy: 05 (năm) bộ bài tứ sắc đã qua sử dụng; 12 (mười hai) bộ bài tứ sắc chưa sử dụng; 01 (một) tấm vải màu xanh, kích thước 80cm x 80cm (Theo biên bản giao nhận vật chứng số 2023 ngày 13/01/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Đức và Chi cục Thu hành án dân sự thành phố Thủ Đức)
3. Căn cứ vào Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Các bị cáo Nguyễn Thị S, Trương Thị Tuyết N, Trần Thị Diệu H, Hứa Thị Ngọc T mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Căn cứ vào Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Các bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND TP.HCM; - VKSND TP. Thủ Đức; - Công an TP. Thủ Đức; - Chi cục THADS TP. Thủ Đức; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Hiền |