- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lù A V - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 15 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 76/2023/HS-ST Ngày 15-3-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tăng Thị Hải Oanh.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Nhung và bà Đỗ Thị Chúc.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị
iang, Th k T a án nh n d n huy n Mộc Ch u, tỉnh Sơn a.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thanh Nga, Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 3 năm 2023, tại T a án nh n d n huy n Mộc Ch u, tỉnh Sơn a xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ l số 76/2023/TLST-HS ngày 20/02/2023 theo Quyết định đ a vụ án ra xét xử sơ thẩm số 76/2023/QĐXXST-HS ngày 02/3/2023 đối với:
Bị cáo: Lù A V, sinh năm: 1962 tại huy n P, tỉnh Sơn a; nơi c trú: Bản N, xã C, huy n B, tỉnh Sơn a; nghề nghi p: Trồng trọt; trình độ văn hóa (học vấn): Không biết chữ; d n tộc: Mông; giới t nh: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Vi t Nam; đảng phái, đoàn thể: Không; con ông Lù A C và bà Sồng Thị S (đều đã chết); bị cáo có vợ là Hạng Thị V và có 09 con; Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 22/9/2011 TAND huy n Bắc Yên, tỉnh Sơn a xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tôi tàng trữ trái phép chất ma túy (Đã đ ợc xóa án t ch).
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/12/2022 đến nay.Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 13 giờ 10 phút ngày 30/12/2022, tổ công tác Công an huy n Mộc Châu làm nhi m vụ tại tiểu khu P, thị trấn N, huy n M tiến hành kiểm tra đối với Lù A V đang đi bộ trên đ ờng dân sinh. Qua kiểm tra phát hi n Lù A V đang cầm ở l ng bàn tay trái 01 gói nilon màu xanh bên trong đựng cục chất bột màu trắng nghi là Heroine. Lù A V khai nhận đó là Heroine của Vàng cất giấu mục đ ch để sử dụng cho bản th n nghi n chất ma túy. Căn cứ hành vi vi phạm của Lù A V, tổ công tác đã lập biên bản bắt ng ời phạm tội quả tang, thu giữ niêm phong vật chứng và dẫn giải Lù A V đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huy n Mộc Ch u để điều tra, làm rõ.
Ngày 30/12/2022, cơ quan cảnh sát điều tra Công an huy n Mộc Ch u đã tiến hành cân xác định khối l ợng số chất bột màu trắng nghi là Heroine thu giữ của Lù A V đ ợc 0,36 gam, lấy toàn bộ làm mẫu tr ng cầu giám định, mẫu có k hi u V.
Tại Kết luận giám định số 153 ngày 01/01/2023 của ph ng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn a kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu V là ma túy. Loại Heroine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,36 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,36 gam; loại Heroine”.
Quá trình điều tra, Lù A V khai nhận: Bản th n nghi n chất ma túy. Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 29/12/2022, V đi nhờ xe máy của một ng ời đàn ông không quen biết đến Mộc Ch u tìm vi c làm thuê. Khi đi đến Tiểu khu P, thị trấn N, huy n M, V xuống xe và ngủ tại một lán n ơng bỏ hoang. Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 30/12/2022, V đi bộ trên đ ờng d n sinh tiểu khu P thì gặp và hỏi mua của một ng ời đàn ông không quen biết tự giới thi u tên là T đ ợc 01 gói Heroine gói bằng nilon màu xanh với giá 250.000 đồng. Sau khi mua đ ợc ma túy, V cầm ở long bàn tay phải rồi đi tìm nơi sử dụng, trên đ ờng đi về gặp tổ công tác Công an huy n Mộc Ch u kiểm tra, phát hi n, bắt quả tang.
Tại phiên tòa bị cáo Lù A V trình bày ý kiến, giữ nguyên lời khai của mình, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung nào làm thay đổi nội dung vụ án. Bị cáo nhận tội nh quyết định truy tố của Vi n kiểm sát.
Cáo trạng số 31/CT-VKS ngày 20/02/2023 của Vi n kiểm sát nh n d n huy n Mộc Ch u truy tố bị can Lù A V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tu ” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên t a, đại di n Vi n kiểm sát nh n d n huy n Mộc Ch u giữ nguyên cáo trạng truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lù A V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tu ” và áp dụng các căn cứ pháp luật nh sau:
1. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Lù A V từ 24 tháng đến 30 tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
2. Về vật chứng vụ án: Áp dụng khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc phong bì c n nguyên niêm phong một mặt có ghi d ng chữ: Vật chứng vụ: Lù A V, bắt ngày 30/12/2022 (một mảnh nilon màu xanh cùng phong bì niêm phong ban đầu); 01 phong bì bên ngoài ghi test thử ma túy của Lù A V.
3. Bị cáo đ ợc miễn án ph hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Sau khi đại di n Vi n kiểm sát phát biểu quan điểm xử l các vấn đề của vụ án. Bị cáo nhất tr với cáo trạng và đề nghị của đại di n Vi n kiểm sát.
ời nói sau cùng: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NH N Đ NH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huy n Mộc Ch u, Điều tra viên, Vi n kiểm sát nh n d n huy n Mộc Ch u, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hi n đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có kiến, khiếu nại về hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng, ng ời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, ng ời tiến hành tố tụng đã thực hi n đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Tại phiên t a bị cáo Lù A V khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình nh đã khai tại cơ quan Điều tra, số ma túy bị tổ công tác Công an huy n Mộc Ch u thu giữ của bị cáo vào ngày 30/12/2022 có nguồn gốc mua đ ợc của một ng ời đàn ông dân tộc Mông không quen biết với giá 250.000 đồng, mục đ ch sử dụng cho bản th n. ời khai của bị cáo không có nội dung gì thay đổi so với lời khai tại cơ quan Cảnh sát điều tra, bị cáo khẳng định vi c khai báo tại cơ quan điều tra và tại phiên t a ngày hôm nay là hoàn toàn tự nguy n và đúng với hành vi đã thực hi n.
Xét lời khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguy n và phù hợp với biên bản bắt ng ời phạm tội quả tang do tổ công tác Công an huy n Mộc Ch u lập vào hồi 13 giờ 20 phút ngày 30/12/2022; biên bản niêm phong đồ vật, tài li u bị tạm giữ; biên bản mở niêm phong xác định số l ợng, khối l ợng, lấy mẫu giám định, niêm phong lại vật chứng đồ vật, tài li u bị tạm giữ; bản kết luận giám định số 153 ngày 01/01/2023 của ph ng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn a kết luận: “Mẫu gửi giám định k hi u V là ma túy. oại Heroine; khối l ợng của mẫu gửi giám định là 0,36 gam. Tổng khối l ợng ma túy thu giữ là 0,36 gam; loại Heroine” Heroine nằm trong danh mục I, mục IA, số thứ tự 9 Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Ch nh phủ. ời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của ng ời làm chứng trong quá trình điều tra và các tài li u, chứng cứ của cơ quan điều tra đã thu thập đ ợc trong hồ sơ vụ án.
Từ những chứng cứ nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo Lù A V là ng ời có đủ năng lực trách nhi m hình sự, nhận thức đ ợc tác hại của vi c tàng trữ, sử dụng ma túy. Nh ng do nghi n chất ma túy nên ngày 30/12/2022 bị cáo Lù A V đã có hành vi tàng trữ, cất giấu trái phép 0,36 gam Heroine nhằm mục đ ch sử dụng cho bản th n. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết định khung hình phạt: Hành vi của bị cáo Lù A V không vi phạm các tình tiết định khung tăng nặng khác nên chỉ bị xét xử ở điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp x m phạm đến ch nh sách độc quyền của Nhà n ớc về quản l các chất ma tu , g y ảnh h ởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa ph ơng.
[3]Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhi m hình sự.
Bị cáo đ ợc h ởng một tình tiết giảm nhẹ trách nhi m hình sự đó là trong quá trình điều tra và tại phiên t a ngày hôm nay bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo đ y là tình tiết giảm nhẹ trách nhi m hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, cần xem xét áp dụng đối với bị cáo.
Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo là ng ời có nh n th n xấu, là đối t ợng nghi n hút chất ma túy. Bị cáo có 01 tiền án tại bản án số 41/2011/HSST ngày 22/9/2011 TAND huy n Bắc Yên, tỉnh Sơn a xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tôi tàng trữ trái phép chất ma túy (Đã đ ợc xóa án t ch).
Từ những đánh giá nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo, đồng thời mới có tác dụng răn đe, giáo dục và ph ng ngừa tội phạm chung.
[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự quy định ng ời phạm tội c n có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy quá trình điều tra và thẩm vấn công khai tại phiên t a hôm nay thấy rằng bị cáo là đối t ợng nghi n ma túy, sống chung với gia đình, không có tài sản riêng có giá trị, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.
[5] Về vật chứng, xử lý vật chứng:
Đối với 01 chiếc phong bì c n nguyên niêm phong một mặt có ghi d ng chữ: Vật chứng vụ: Lù A V, bắt ngày 30/12/2022 (một mảnh nilon màu xanh cùng phong bì niêm phong ban đầu); 01 phong bì bên ngoài ghi test thử ma túy của Lù A V. Áp dụng khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu hủy.
[6] Về án phí: Tài li u hồ sơ xác định bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn thuộc hộ nghèo và là ng ời dân tộc thiểu số, c trú ở vùng có điều ki n kinh tế - xã hội đặc biết khó khăn, tại phiên t a bị cáo xin đ ợc miễn nộp tiền án ph , do đó bị cáo thuộc tr ờng hợp đ ợc xem xét miễn án ph .
[7]Về quyền kháng cáo: Bị cáo đ ợc quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
[8] Về các vấn đề khác:
Đối với ng ời đàn ông dân tộc Mông đã bán ma túy cho Lù A V tại khu vực tiểu khu P, thị trấn N, huy n M. Quá trình điều tra không xác định đ ợc lai lịch, địa chỉ. Do đó, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huy n Mộc Ch u không có căn cứ để điều tra, làm rõ và xử l .
Thời hạn tạm giam của bị cáo Lù A V c n d ới 45 ngày nên Hội đồng xét xử ra quyết định tạm giam đối với bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT Đ NH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố bị cáo Lù A V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Lù A V 24 (Hai m ơi bốn) tháng tù.
Thời hạn tù của bị cáo t nh từ ngày 30/12/2022.
Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
2. Về vật chứng của vụ án: Căn cứ khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc phong bì c n nguyên niêm phong một mặt có ghi d ng chữ: Vật chứng vụ: Lù A V, bắt ngày 30/12/2022 (một mảnh nilon màu xanh cùng phong bì niêm phong ban đầu); 01 phong bì bên ngoài ghi test thử ma túy của Lù A V.
3. Về án phí : Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Th ờng vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l và sử dụng án ph và l ph T a án, bị cáo Lù A V đ ợc miễn toàn bộ án ph hình sự sơ thẩm.
Bị cáo đ ợc quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - T a án tỉnh Sơn a; - Vi n KSND huy n Mộc Ch u; - Công an huy n Mộc Ch u; - Chi cục THADS huy n Mộc Ch u; - Trại giam; - THA HS; - Bị cáo; - Sở t pháp tỉnh Sơn a (khi án có hi u lực); - u hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Tăng Thị Hải Oanh |