- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn C, Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Văn C phạm tội: Mua bán trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 76/2023/HS-ST Ngày 26-9-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Thu Hương
Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Ngọc Oanh và ông Trần Thanh Vân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thái Hà - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Thanh Huyền - Kiểm sát viên
Ngày 26 tháng 9 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 78/2023/TLST-HS ngày 18 tháng 8 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 83/2023/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 9 năm 2023, đối với bị cáo:
Phạm Văn C, tên gọi khác: Không; sinh ngày 08 tháng 3 năm 1979, tại tỉnh Yên Bái; nơi cư trú: Tổ 14, phường N, thành phố Y, tỉnh Yên Bái; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn V (đã chết) và bà Nguyễn Thị B; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Bản án số 104/2005/HSST, ngày 27/10/2005 của Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái xử phạt Phạm Văn C 03 năm tù về tội “Tàng trái phép chất ma túy” (chấp hành xong năm 2008); Bản án số 38/2013/HSST, ngày 24/5/2013 của Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái xử phạt Phạm Văn C 08 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” (chấp hành xong ngày 19/01/2020).
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 08 tháng 6 năm 2023 đến nay. Hiện đang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái. Có mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1947, nơi cư trú: Tổ 14, phường N, thành phố Y, tỉnh Yên Bái; có mặt.
- Người làm chứng:
+ Anh Trần Đình T, sinh năm 1970, nơi cư trú: Tổ dân phố P, phường N, thành phố Y, tỉnh Yên Bái; vắng mặt.
+ Anh Nguyễn Văn B, sinh năm 1985, nơi cư trú: Thôn Đ, xã B, huyện T, tỉnh Yên Bái; vắng mặt.
- Người chứng kiến: Anh Nguyễn Tiến V, sinh năm 1991, nơi cư trú: Tổ 14, phường Y, thành phố Y, tỉnh Yên Bái; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ ngày 08/6/2023, C đến khu vực đường bờ kè Sông Hồng, sau chợ ga Yên Bái thuộc tổ dân phố H, phường H, thành phố Y tìm mua ma túy để sử dụng và bán kiếm lời. Tại đây, C mua của một người đàn ông không biết tên, tuổi, địa chỉ đang đứng ở ven đường một gói ma túy với số tiền 500.000 đồng, C mang về nhà sử dụng một ít, số còn lại C chia thành 03 gói nhỏ được gói bằng các mảnh giấy bạc, một mặt màu vàng, một mặt màu trắng cất giữ để sử dụng cho bản thân và bán kiếm lời. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, Nguyễn Văn B đến nhà C hỏi mua 01 gói ma túy, loại heroine, ngay lúc đó thì Trần Đình T cũng đến nhà C, gặp B và C đang đứng ở bậc lên xuống nhà C, T cũng hỏi mua của C 01 gói ma túy, loại heroin. C đồng ý bán cho B và T với giá 200.000đồng/01 gói. B đưa cho C số tiền 200.000 đồng, T cũng đưa cho C số tiền 200.000 đồng, C cầm tiền rồi đưa cho T và B mỗi người 01 gói ma túy. Sau khi mua được ma túy, B và T cùng đi ra khu vực Công viên Yên Hòa để sử dụng, khi vừa sử dụng xong thì bị tổ công tác của Công an thành phố Yên Bái phát hiện, kiểm tra và thu giữ gồm: 01 mảnh giấy bạc bị đốt cháy đen; 02 mảnh giấy bạc một mặt màu vàng, một mặt màu trắng; 01 bật lửa ga màu đỏ; 01 xilanh nhựa loại 3ml/cc; 01 vỏ ống thủy tinh có chữ Novocain. Quá trình kiểm tra Trần Đình T và Nguyễn Văn B đều khai nhận bản thân là người nghiện chất ma túy, số ma túy mà T và B vừa sử dụng là do mua của Phạm Văn C.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Yên Bái thi hành Lệnh khám xét khẩn cấp đối với Phạm Văn C, tại nơi ở: Tổ 14, phường Nguyễn Thái Học, thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái, đã thu giữ khi khám xét gồm: 01 gói giấy bạc một mặt màu vàng, bên trong chứa chất nghi là ma túy do C tự giác giao nộp và một số cục bột màu trắng nghi là ma túy thu trên mặt chiếu được dải ở đệm kê trên nền nhà; 01 ví giả da màu đen đã qua sử dụng; số tiền 6.360.000 đồng; 01 căn cước công dân mang tên Phạm Văn C; 01 dao lam; 01 tờ giấy loại tờ lịch; 01 mảnh giấy bạc màu trắng đã bị đốt đen; 02 tờ giấy bạc một mặt màu vàng, một mặt màu trắng; 01 điện thoại di động Iphone 8 plus đã qua sử dụng, màn hình cảm ứng đã nứt vỡ, lắp sim có số thuê bao: 0337.131.579. C khai số ma túy bị thu giữ khi khám xét là của C tàng trữ với mục đích để sử dụng cho bản thân và bán kiếm lời. Tại Cơ quan điều tra, C đã khai nhận toàn bộ hành vi vi phạm như đã nêu trên.
Tại Bản kết luận giám định số: 332/KL-KTHS, ngày 16/6/2023 của phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Yên Bái kết luận: Chất bột nén màu trắng thu giữ trên chiếu khi khám xét Phạm Văn C có khối lượng là 0,16 gam; 0,08 gam trích từ 0,16 gam chất bột nén màu trắng gửi giám định là ma túy, loại Heroine; chất bột nén màu trắng do Phạm Văn C tự giác giao nộp khi khám xét có khối lượng là 0,04 gam; 0,04 gam chất bột nén màu trắng gửi giám định là ma túy; loại Heroine.
Bản cáo trạng số: 72/CT-VKS-TP ngày 17 tháng 8 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái truy tố bị cáo Phạm Văn C về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Phạm Văn C phạm tội: Mua bán trái phép chất ma túy; áp dụng điểm c khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Phạm Văn C từ 08 (tám) năm đến 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Về vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Bị cáo thành khẩn khai báo, không có ý kiến tranh luận, đề nghị được hưởng mức hình phạt thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Yên Bái, Điều tra viên, Kết luận giám định của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Yên Bái; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp với quy định của pháp luật.
Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác, vật chứng thu giữ, kết luận giám định, phù hợp với các tài liệu đã được thu thập trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 19 giờ ngày 08/6/2023, tại nhà riêng của Phạm Văn C ở tổ 14, phường Nguyễn Thái Học, thành phố Yên Bái, C đã thực hiện hành vi bán trái phép chất ma túy, loại heroine cùng một lúc cho Nguyễn Văn B và Trần Đình T mỗi người một gói với giá 200.000 đồng/1 gói và tàng trữ 0,2 gam ma túy, loại heroine với mục đích để sử dụng và bán. Hành vi của Phạm Văn C đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” với tình tiết “Đối với 2 người trở lên” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng vì mục đích vụ lợi nên bị cáo đã cố ý thực hiện. Bị cáo thực hiện hành vi bán trái phép chất ma tuý cùng một lúc cho hai người là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm các quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây mất trật tự trị an và gây hậu quả xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội, là nguyên nhân làm gia tăng tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác. Bị cáo có nhân thân xấu, là người sử dụng trái phép chất ma tuý; đã hai lần bị Tòa án xử phạt tù cùng về tội phạm liên quan đến ma túy, sau khi ra tù bị cáo không lấy đó làm bài học để cải tạo, sửa đổi bản thân mà lại tiếp tục thực hiện hành vi vi phạm, thể hiện ý thức tu dưỡng, rèn luyện của bị cáo là rất kém. Vì vậy, cần có hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Quá trình tham gia tố tụng bị cáo thành khẩn khai báo; có bố đẻ là người có công với cách mạng được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập, không có tài sản nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về nguồn gốc số ma túy: Bị cáo khai mua của một người đàn ông không quen biết tại khu vực bờ kè Sông Hồng sau chợ ga Yên Bái thuộc tổ dân phố Hồng Phú, phường Hồng Hà, thành phố Yên Bái. Do C không biết tên và địa chỉ của người này nên không đủ cơ sở để điều tra, xử lý.
Đối với Trần Đình T và Nguyễn Văn B đã cùng mua ma túy của C và đã sử dụng hết cho bản thân. Xét hành vi của T và B là độc lập, không cùng góp tiền, không bàn bạc về việc cùng mua và sử dụng ma tuý do đó không đủ yếu tố cấu thành tội phạm, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Yên Bái đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với T và B về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là phù hợp.
Về vật chứng: Số tiền 6.360.000 đồng thu giữ tại nơi ở của bị cáo, trong đó có 400.000 đồng do bị cáo bán ma tuý cho T và B nên tịch thu số tiền 400.000 đồng nộp ngân sách Nhà nước. Số tiền còn lại 5.960.000 đồng là tài sản hợp pháp của mẹ bị cáo là bà Nguyễn Thị B, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Yên Bái đã trả lại cho bà Bình là phù hợp. Đối với 0,08 gam ma tuý được đựng trong phong bì niêm phong do phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Yên Bái phát hành, mặt trước phong bì có ghi: “vật chứng thu giữ trên chiếu khi khám xét Phạm Văn C, ngày 08/6/2023” (sau khi trích mẫu giám định); 02 mảnh giấy bạc đã bị đốt đen; 04 mảnh giấy bạc một mặt màu vàng, một mặt màu trắng; 01 bật lửa ga màu đỏ; 01 xilanh nhựa loại 3ml/cc; 01 vỏ ống thủy tinh có chữ Novocain; 01 dao lam; 01 tờ giấy loại tờ lịch; 05 vỏ phong bì đã mở niêm phong; 02 vỏ túi nilon màu trắng; mảnh giấy bạc sau giám định đều là các vật chứng, đồ vật có liên quan đến hành vi vi phạm pháp luật, không có giá trị sử dụng và vật cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy. 01 chiếc ví giả da màu đen; 01 căn cước công dân; 01 điện thoại di động, loại Iphone 8 plus, không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo.
Về án phí: Gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo, bị cáo có đề nghị xin miễn án phí hình sự sơ thẩm, thuộc trường hợp quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, giảm, miễn, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, nên bị cáo được miễn án phí.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật;
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Văn C phạm tội: Mua bán trái phép chất ma túy.
2. Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Văn C 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08 tháng 6 năm 2023.
3. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự:
- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 400.000 (bốn trăm nghìn) đồng của Phạm Văn C.
- Trả lại cho bị cáo Phạm Văn C 01 chiếc ví giả da màu đen đã qua sử dụng; 01 căn cước công dân số 015079002093 mang tên Phạm Văn C; 01 điện thoại di động, loại Iphone 8 plus đã qua sử dụng, màn hình cảm ứng đã bị nứt vỡ, vỏ màu xám có số IMEI 3595.0008.3367.520, lắp sim có số thuê bao 0337.131.579.
- Tịch thu tiêu hủy: 0,08 gam ma tuý được đựng trong phong bì niêm phong do phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Yên Bái phát hành, mặt trước phong bì có ghi: “Vật chứng thu giữ trên chiếu khi khám xét Phạm Văn C, ngày 08/6/2023” (sau khi trích mẫu giám định), mặt sau phong bì các mép được dán kín, có họ tên và chữ ký của Nguyễn Đức Phượng, Dương Văn Sơn, Phạm Văn C, Ngô Thủy Dương, Trần Xuân T, Hà Văn Lưu và 04 hình dấu tròn đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Yên Bái; 02 mảnh giấy bạc đã bị đốt đen; 04 mảnh giấy bạc một mặt màu vàng, một mặt màu trắng; 01 bật lửa ga màu đỏ đã qua sử dụng; 01 xilanh nhựa loại 3ml/cc đã qua sử dụng; 01 vỏ ống thủy tinh có chữ Novocain; 01 dao lam có chữ CROMA; 01 tờ giấy loại tờ lịch có in chữ và số; 05 vỏ phong bì đã mở niêm phong; 02 vỏ túi nilon màu trắng và mảnh giấy bạc sau giám định.
(Đặc điểm vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/8/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Yên Bái và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Yên Bái).
4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy B Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, giảm, miễn, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Phạm Văn C được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo Phạm Văn C có quyền kháng cáo bản án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Yên Bái; - VKSND tỉnh Yên Bái; - Sở tư pháp tỉnh Yên Bái; - VKSND TP Yên Bái; - CATP Yên Bái; - HSNV Công an TP Yên Bái; - Nhà tạm giữ CA TP Yên Bái; - THADS thành phố; - Bị cáo, người có QLNVLQ; - THA hình sự; - Lưu HS, TA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Hà Thị Thu Hương |