- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Bằng tàng trữ ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Kiều Văn B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 76/2023/HS-ST Ngày 28-6-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Văn Tiến.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Kim Dung và bà Nguyễn Thị Thuý Nga.
Thư ký phiên tòa: Ông Trần Mạnh Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên tham gia phiên tòa: Ông Phan Anh Đức - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 6 năm 2023, tại Nhà văn hoá Đồng Khâu, phường Tích Sơn, thành phố Vĩnh Yên, Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 71/2023/TLST-HS ngày 16 tháng 6 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 73/2023/HSST-QĐ ngày 16 tháng 6 năm 2023, đối với bị cáo:
Kiều Văn B, sinh ngày 06/11/1980, tại Vĩnh Phúc; nơi cư trú: Thôn Khách Nhi, xãVT, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; Đảng phái: Không; trình độ văn hoá:10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Kiều Anh D và bà Lương Thị H; vợ: Hoàng Thị Ng; con: 02 con; tiền án: Không; tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/3/2023 đến nay (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 07 giờ 20 phút ngày 24/03/2023, Kiều Văn B, sinh năm 1980, HKTT và chỗ ở: Thôn Khách Nhi, xãVT, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc đang đi bộ lang thang tại khu vực xã Thiện Kế, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc thì có nhu cầu sử dụng ma túy nên một mình bắt xe buýt đi đến thành phố Vĩnh Yên mục đích tìm mua ma túy để sử dụng cho bản thân. Khi đi đến khu vực bến xe buýt gần đài phun nước thuộc phường Ngô Quyền, thành phố Vĩnh Yên thì Bằng xuống xe rồi một mình đi bộ đến đường Trần Quốc Tuấn thuộc phường Đống Đa, thành phố Vĩnh Yên để tìm mua ma túy. Khi tới khu vực cổng Trường Tiểu học Kim Ngọc, Bằng gặp và hỏi mua được của một nam giới đang đứng ven đường (Bằng không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của người này) 02 gói ma túy Heroine với giá 500.000đ. Sau đó, Bằng cất 02 gói ma túy vừa mua được vào túi quần bên phải chiếc quần đang mặc và tiếp tục đi bộ tìm nơi vắng người để sử dụng. Khi Bằng đi bộ đến khu vực đường Hai Bà Trưng, phường Đống Đa, thành phố Vĩnh Yên thì bị Tổ công tác Công an phường Đống Đa, thành phố Vĩnh Yên kiểm tra hành chính, lập biên bản sự việc. Thu giữ tại túi quần bên phải phía trước chiếc quần Kiều Văn B đang mặc 02 gói giấy bạc nhỏ, bên trong có chứa chất cục, bột màu trắng (Bằng khai nhận đó là 02 gói ma túy Heroine của Bằng vừa mua được để sử dụng cho bản thân), vật chứng niêm phong trong phong bì thư ký hiệu A1 theo thủ tục pháp luật. Tổ công tác tiến hành lập biên bản sự việc, đưa Bằng về trụ sở làm việc và sau đó bàn giao hồ sơ, vật chứng cùng đối tượng Bằng cho Cơ quan CSĐT Công an thành phố Vĩnh Yên để giải quyết theo thẩm quyền.
Tại Kết luận giám định số 802/KL-KTHS ngày 28/03/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc kết luận: “Chất bột, cục màu trắng của mẫu ký hiệu A1 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,2947g (không phảy hai chín bốn bảy gam, không kể bao bì), loại Heroine ”.
Về nguồn gốc ma túy và người đã bán ma tuý cho Kiều Văn B ngày 24/03/2023 quá trình điều tra, Bằng khai nhận: Qua bạn bè nghiện ngoài xã hội giới thiệu, Bằng tìm đến khu vực đường Trần Quốc Tuấn thuộc phường Đống Đa, thành phố Vĩnh Yên, gặp, hỏi và mua được 02 gói ma túy heroine với giá 500.000đ của một nam giới. Bằng không biết nhân thân, lai lịch của người này.
Tại Cáo trạng số: 79/CT-VKSND -VY ngày 15/6/2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên đã truy tố Kiều Văn B về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại Cơ quan điều tra và phiên tòa, bị cáo Kiều Văn B khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung đã nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Kiều Văn B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); xử phạt bị cáo từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 24/3/2023.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo là người nghiện ma tuý, không có nghề nghiệp, không có tài sản nên đề nghị miễn hình phạt bổ sung.
Áp dụng khoản 1Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017); khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, tịch thu tiêu huỷ mẫu vật hoàn lại sau giám định gồm: A1 = 0,2587 gam mẫu cùng toàn bộ bao gói được niêm phong trong cùng một bao gói giấy “MẪU TRẢ.
Bị cáo Bằng không bào chữa và tranh luận gì. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai nhận tội của bị cáo Kiều Văn B tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của người chứng kiến về thời gian, địa điểm, mục đích, động cơ phạm tội, cùng các tang vâ ̣t đa thu giữ
̃ , các tài liệu chứng cứ được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án, do đó có đủ căn cứ để kết luận.
Khoảng 08 giờ 40 phút ngày 24/03/2023, tại khu vực đường Hai Bà Trưng thuộc phường Đống Đa, thành phố Vĩnh Yên, Kiều Văn B có hành vi tàng trữ trái phép 02 gói ma tuý mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị Tổ công tác Công an phường Đống Đa, thành phố Vĩnh Yên phát hiện lập biên bản sự việc, thu giữ của Bằng 02 gói giấy bên trong có 0,2947 gam chất cục, bột màu trắng, qua giám định xác định là ma túy, loại Heroine.
Hành vi của Kiều Văn B đã phạm vào tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Nội dung điều luật quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển,sản xuất trái phép chất ma tuý thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c) …, Heroin… có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;”.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an và an toàn trong xã hội, ảnh hưởng đến nòi giống, sức khỏe của con người, làm tác hại cho chính bản thân người nghiện và gia đình họ cũng như cho cộng đồng nói chung. Do vậy, cần phải xử lý thật nghiêm minh mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hô ̣i đồng xét xử nhận thấy :
Bị cáo phạm tội theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năn 2017), có mức cao nhất của khung hình phạt tù đến 5 năm nên theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 9 của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì trường hợp nêu trên thuộc tội phạm nghiêm trọng.
Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Bằng không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), là căn cứ để Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Về nhân thân: Trước khi phạm tội bị cáo là người có nhân thân tốt chưa có tiền án tiền sự.
Từ các căn cứ nêu trên xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, nếu để cải tạo tại địa phương sẽ không có tác dụng giáo dục nói chung, cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa để buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện, người công dân có ích cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Tuy nhiên, bị cáo là người nghiện ma túy, không có tài sản, nên Hội đồng xét xử quyết định miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Đối với người có liên quan trong vụ án: Đối với người bán ma tuý cho Bằng, Cơ quan điều tra không xác định chính xác về đối tượng đã bán ma tuý cho Bằng ngày 24/3/2023. Do vậy, Cơ quan điều tra, Công an thành phố Vĩnh Yên tiếp tục điều tra khi nào làm rõ sẽ xử lý sau là phù hợp.
Về vật chứng: Đối với mẫu vật hoàn lại sau giám định gồm: A1 = 0,2587 gam mẫu cùng toàn bộ bao gói được niêm phong trong cùng một bao gói giấy “MẪU TRẢ” không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu để tiêu huỷ.
Về án phí: Bị cáo Bằng phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Kiều Văn B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Kiều Văn B 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 24/3/2023).
Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu tiêu hủy mẫu vật hoàn lại sau giám định gồm: A1 = 0,2587 gam mẫu cùng toàn bộ bao gói được niêm phong trong cùng một bao gói giấy “MẪU TRẢ”.
(Đặc điểm vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thành phố Vĩnh Yên với Chi cục thi hành án dân sự thành phố Vĩnh Yên).
Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Kiều Văn B phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thuý Nga Vũ Thị Kim Dung
Đào Văn Tiến
| Nơi nhận: - Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc; - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc; - VKSND thành phố Vĩnh Yên; - Công an thành phố Vĩnh Yên; - Trại tạm giam - CA Vĩnh Phúc; - Chi cục thi hành án Vĩnh Yên; - Thi hành án hình sự; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án, văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đào Văn Tiến |