vanban.org

Bản án 76/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang Tuyên án 22/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;

Tuyên bố: Bị cáo H.M.L phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Về hình phạt: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "H.M.L tàng trữ ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SƠN DƯƠNG
TỈNH TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 76/2023/HS-ST
Ngày: 22/6/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN S.D, TỈNH T.Q

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Minh Khánh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Ma Quốc Thể.

2. Ông Nguyễn Danh L.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huyền Trang - Thư ký Toà án nhân dân huyện S.D.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện S.D tham gia phiên toà: Ông Bàng Đức Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 22/6/2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện S.D, tỉnh T.Q và điểm cầu Trại tạm giam Công an tỉnh T.Q xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 67/2023/TLST-HS, ngày 12 tháng 5 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 69/2023/QĐXXST-HS, ngày 08 tháng 6 năm 2023, đối với bị cáo:

H.M.L, sinh ngày 06/7/1994 tại huyện S.D, tỉnh T.Q; Nơi cư trú: Thôn G.C, xã P.L, huyện S.D, tỉnh T.Q; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: H.V.M (đã chết) và bà: T.T.T, sinh năm 1964; vợ, con: Chưa có; Anh, chị, em ruột: có 02 người, bị cáo là con thứ hai.

Tiền án: Không.

Tiền sự: Ngày 03/11/2022, Công an huyện Sông Lô, tỉnh V.P xử phạt 350.000đ về hành vi đánh bạc, ngày 04/11/2022 đã chấp hành xong.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/02/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T.Q (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà T.T.T, sinh năm 1964; trú tại: Thôn G.C, xã P.L, huyện S.D, tỉnh T.Q. (Vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 15 giờ ngày 11/02/2023, tổ công tác Công an xã H.P, huyện S.D đang làm nhiệm vụ tại đoạn đường ĐT 186 thuộc thôn Q.T, xã H.P, huyện S.D phát hiện H.M.L điều khiển xe mô tô, biển số 22H7-5044 có biểu hiện nghi vấn sử dụng trái phép chất ma túy. Tổ công tác yêu cầu L về trụ sở UBND xã H.P làm việc. Tiến hành xét nghiệm tìm chất ma túy đối với H.M.L, kết quả (+) dương tính, có chất ma túy trong cơ thể L. Tổ công tác yêu cầu L nếu có ma túy thì giao nộp.

L khai nhận: Bản thân L là người nghiện ma túy, hiện L còn cất giấu ma túy tại nhà mình ở thôn G.C, xã P.L, huyện S.D mục đích để sử dụng cho bản thân. Sau đó L đã dẫn Công an xã H.P về nhà mình và tự giác lấy trên nắp thùng lúa ngay gần cửa đi ra phía sau nhà 01 gói nhỏ bên ngoài gói bằng giấy bạc màu trắng, bên trong có chất bột vón cục màu trắng ngà; 01 túi nilon có khóa màu trắng, bên trong có 03 viên nén hình tròn, trong đó 02 viên nén màu đỏ L khai là ma túy tổng hợp, 01 viên nén màu xanh L khai là viên giữ ẩm giao nộp cho Công an xã H.P.

Về nguồn gốc ma túy bị thu giữ, H.M.L khai nhận: Khoảng 15 giờ ngày 09/02/2023, L điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 22H7-5044 (xe của mẹ L là bà T.T.T) đến thị trấn huyện L.T, tỉnh V.P gặp và hỏi mua ma túy của một người đàn ông không xác định được tên, tuổi, địa chỉ 400.000đ được 01 gói ma túy gói bằng giấy bạc màu trắng; 02 viên ma túy tổng hợp. Sau khi mua được ma túy, L đi về, đi được một đoạn, L lấy một phần heroine trong gói vừa mua được ra sử dụng, số còn lại L gói lại như cũ mang về nhà cất giấu tại nắp thùng đựng lúa ngay gần cửa đi ra sau nhà.

Hồi 19 giờ 50 phút cùng ngày, Tổ công tác Công an xã H.P đã lập biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú và thu giữ số ma túy L giao nộp và 01 xe mô tô, biển số 22H7-5044.

Kết luận giám định số 296/KL - KTHS ngày 14/02/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh T.Q. Kết luận:

- Số chất bột vón cục màu trắng gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, khối lượng 0,073gam (không phẩy không bảy ba gam).

- 02 (hai) viên nén màu đỏ gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,184gam (không phẩy một tám tư gam).

- 01 (một) viên nén màu xanh gửi giám định không phải chất ma túy; khối lượng 0,073gam (không phấy không bẩy ba gam).

Tại Cáo trạng số 74/CT-VKSSD, ngày 12/5/2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện S.D đã truy tố H.M.L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị:

- Tuyên bố bị cáo H.M.L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng: Điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo H.M.L từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (11/02/2023).

Do bị cáo không có tài sản có giá trị lớn nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong còn nguyên vẹn, bên trong có chứa chất ma túy (đã giám định) mặt sau trên các mép dán có chữ ký của H.M.L, các thành phần tham gia và hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh T.Q; Trả cho bà T.T.T 01 xe mô tô, biển số 22H7-5044.

- Về án phí, quyền kháng cáo: Buộc bị cáo phải chịu tiền án phí và tuyên quyền kháng cáo của bị cáo theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung bản cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo hưởng mức án nhẹ nhất.

Về tội danh: Căn cứ vào lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa; căn cứ vào Biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hồi 19 giờ 50 phút, ngày 11/02/2023, tại nhà ở của mình thuộc thôn G.C, xã P.L, huyện S.D, tỉnh T.Q, H.M.L đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,073g (không phẩy không bảy ba gam) Heroine; 0,184g (không phẩy một tám tư gam) Methamphetamine, mục đích để sử dụng cho bản thân.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện S.D truy tố H.M.L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là đúng người, đúng tội. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, gây mất trật tự trị an tại địa phương và gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Do vậy, cần phải có mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo, đồng thời phòng ngừa tội phạm chung.

Về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và đường lối xử lý đối với bị cáo:

Về nhân thân: Bị cáo có 01 tiền sự, ngày 03/11/2022, Công an huyện Sông Lô, tỉnh V.P xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc.

Về tình tiết tăng nặng: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ: Người phạm tội đầu thú, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã được phân tích ở trên, Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo trong mức án mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị như vậy là phù hợp.

Quá trình điều tra xác định bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Về vật chứng: Đối với 01 phong bì niêm phong còn nguyên vẹn, bên trong có chứa chất ma túy (đã giám định) mặt sau trên các mép dán có chữ ký của H.M.L, các thành phần tham gia và hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh T.Q. Đây là vật chứng của vụ án thuộc danh mục Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

01 xe mô tô, biển số 22H7-5044 là xe của bà T.T.T không liên quan đến vụ án nên trả lại cho bà T.

Các vấn đề khác: Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo tại khu vực TT. L.T, huyện L.T, tỉnh V.P, do không xác định được tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ để điều tra xử lý.

Về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo H.M.L ngày 11/02/2023 tại TT. L.T, huyện L.T, tỉnh V.P, Công an huyện S.D chuyển hồ sơ đến Công an huyện L.T, tỉnh V.P để xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.

Đối với bà T.T.T (mẹ đẻ bị cáo) không biết việc bị cáo mượn xe để đi mua ma túy nên không đề cập xử lý.

Do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S.D, Điều tra viên,Viện kiểm sát nhân dân huyện S.D, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo H.M.L không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về án phí và quyền kháng cáo bản án:

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;

Căn cứ: Điều 47 Bộ luật hình sự; Các Điều 106, 136, 331 và 333 Bộ luật tố tụng hình sự;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;

Tuyên bố: Bị cáo H.M.L phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

1. Về hình phạt:

Xử phạt bị cáo H.M.L 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (11/02/2023).

2. Về vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì đã niêm phong còn nguyên vẹn, bên trong có chứa ma túy (đã giám định), đặc điểm, tình trạng, khối lượng được miêu tả trong biên bản mở niêm phong và giao nhận đối tượng giám định. Bên ngoài, mặt sau trên các mép dán có hình dấu niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh T.Q, chữ ký xác nhận của thành phần tham gia niêm phong và H.M.L; mặt trước phong bì ghi “Tang vật vụ H.M.L giám định ngày 12/02/2023”.

- Trả lại cho bà T.T.T 01 xe mô tô, nhãn hiệu LISOHAKA,biển số 22H7-5044.

(Tình trạng vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 26/5/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện S.D và Chi cục Thi hành án dân sự huyện S.D)

3. Về án phí và quyền kháng cáo:

Bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm;

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bà T.T.T được quyền kháng cáo đối với phần liên quan đến quyền, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc niêm yết bản án.

Cỡ chữ