vanban.org

Bản án 76/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu Tuyên án 08/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Vì Văn M, Lò Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Vì Văn M: 12 (Mười hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Thời hạn tù tính từ ngày 28/02/2023. Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn Đểu và ĐP - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Vì Văn M, Lò Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TAND HUYỆN SÌN HỒ
TỈNH LAI CHÂU
Bản án số: 76/2023/HS-ST
Ngày 08 - 9 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÌN HỒ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Minh Tuấn

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Cao Cường, ông Lường Văn Quý

- Thư ký phiên toà: Ông Hờ A Thái – Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ tham gia phiên toà: Ông Phùng Văn Chử – Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 9 năm 2023 tại trụ sở TAND huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu, Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 83/2023/HSST ngày 26 tháng 7 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 89/2023/QĐXXST-HS ngày 28/8/2023 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Lò Văn Đ – Sinh năm 1970 tại huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: bản Nậm H, xã Noong H, huyện Sìn H, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: trồng trọt; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Dân tộc: Thái; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông: Lò Văn H – đã chết; Con bà: Lò Thị P – đã chết. Gia đình bị cáo có 10 anh em, bị cáo là con thứ 06 trong gia đình; Vợ: Lò Thị P – sinh năm 1977, bị cáo có 05 con, con lớn nhất sinh năm 1992, con nhỏ nhất sinh năm 2008; Tiền án, tiền sự: Không.

Về nhân thân: Bản án hình sự sơ thẩm số: 06/HS-ST ngày 11/6/1999, của của Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu, áp dụng khoản 1 Điều 155 Bộ luật hình sự (năm 1985), xử phạt Lò Văn Đ 15 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 22/4/1999. Bản án hình sự sơ thẩm số: 71/2014/HSST ngày 09/9/2014, của Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu, áp dụng khoản 1 Điều 194; Điều 33; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi năm 2009), xử phạt Lò Văn Đ 02 năm 06 tháng tù. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù và các quyết định của cả hai bản án này nên đã được đương nhiên xóa án tích.

Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 28/02/2023, bị tạm giam từ ngày 09/3/2023 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện Sìn Hồ. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Vì Văn M – Sinh năm 1992 tại huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Vì Văn M; Nơi cư trú: bản Ná Đ, xã Noong H, huyện Sìn H, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Thái; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông: Vì Văn Bình – sinh năm 1973; Con bà: Lò Thị X – đã chết. Gia đình bị cáo có 04 anh em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Vợ: Lò Thị T – sinh năm 1991, bị cáo có 01 con sinh năm 2017; Tiền sự: Không.

Tiền án: Tại Bản án số 20/2020/HS-ST ngày 27/6/2020 của Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; khoản 1 Điều 386; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 55 Bộ Luật hình sự, xử phạt Vì Văn M 01 năm 07 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 01 năm 03 tháng tù về tội “Trốn khi đang bị áp giải”, tổng hợp hình phạt của cả 02 tội là 02 năm 10 tháng tù. Ngày 24/9/2022 bị can chấp hành xong hình phạt tù và các quyết định của bản án. Đến thời điểm phạm tội lần này, bị cáo chưa được xóa án tích.

Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 28/02/2023, bị tạm giam từ ngày 09/3/2023 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện Sìn Hồ. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Người bào chữa cho các bị cáo: Bà Nguyễn Thị Nga, bà Nông Thị Minh Hạnh – Có mặt,

Bà Nga, bà Hạnh là Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Lai Châu.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: ông Lò Văn V – sinh năm 1991-Vắng mặt

Địa chỉ: bản Nậm H, xã Noong H, huyện Sìn H, tỉnh Lai Châu.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Ngày 20/02/2023, Lò Văn Đ đến xã Phăng Sô L, huyện Sìn H tìm mua Heroine để sử dụng, khi đến Km số 6 Tỉnh lộ 129, địa phận thuộc xã Phăng Sô Lin, huyện Sìn Hồ thì gặp một người đàn ông dân tộc Dao khoảng 40 tuổi, không rõ lai lịch. Đểu hỏi và hẹn với người đàn ông này, buổi tối ngày 27/02/2023 người đàn ông sẽ mang Heroine đến bán cho Đểu và thống nhất địa điểm giao dịch tại Km số 9 Tỉnh lộ 129, địa phận thuộc xã Phăng Sô Lin, huyện Sìn Hồ, sau đó Đểu đi về nhà. Khoảng 20 giờ ngày 27/02/2023, Lò Văn Đ rủ Vì Văn M sinh (là con rể của Đểu, đang ở nhờ nhà Đểu) cùng đi mua Heroine và hứa sẽ cho Muôn sử dụng cùng, M đồng ý. Sau khi thống nhất, Đểu điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave α không gắn biển kiểm soát (chiếc xe mô tô thuộc sở hữu của Lò Văn Vấn, sinh năm 1991) chở M cùng đến xã Phăng Sô L, huyện Sìn Sìn H mua Heroine của người đàn ông mà Đểu đã hẹn từ trước. Khi đến Km số 9 Tỉnh lộ 129, địa phận thuộc bản Lồ Tồ P, xã Phăng Sô L, huyện Sìn Hồ thì thấy người đàn ông đã hẹn trước đó đang đứng ở cạnh đường, Đ dừng xe lại, đi bộ đến chỗ người đàn ông để mua Heroine, còn M đứng ở chỗ dựng xe đợi. Người đàn ông đưa cho Đểu 01 gói Heroine được đựng trong một chiếc tất màu vàng nâu và nói bán với giá 30.000.000 đồng, Đểu đưa cho người đàn ông 13.000.000 đồng, phần tiền còn thiếu sẽ trả sau, người đàn ông đồng ý. Mua được Heroine, Đểu cất giấu vào trong túi áo khoác bên phải đang mặc rồi đến chỗ Muôn đang đợi bảo Muôn điều khiển xe mô tô chở Đểu về nhà. Hồi 00 giờ 10 phút ngày 28/02/2023, khi đến Km số 83 + 500 Tỉnh lộ 133, địa phận thuộc bản Tà Tủ, xã Nậm Tăm, huyện Sìn Hồ thì bị Tổ công tác Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sìn Hồ đang làm nhiệm vụ phát hiện, bắt quả tang, thu giữ của Lò Văn Đ và Vì Văn M 01 gói nilon màu trắng, bên trong chứa 02 gói chất bột màu trắng (01 gói được gói bằng nilon màu vàng, 01 gói được gói bằng nilon màu xanh), cất giấu trong một chiếc tất chân màu vàng nâu. Số ma túy này Đểu và Muôn khai mục đích tàng trữ để sử dụng.

Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã thu giữ những vật chứng sau: 59,42 gam Heroine thu giữ của Lò Văn Đ và Vì Văn M, đã đã trích 0,32 gam gửi đi giám định chất ma túy, không hoàn lại mẫu vật sau khi giám định. Số Heroine còn lại: 59,1 gam. 01 túi nilon màu trắng, 01 mảnh nilon màu xanh, 01 mảnh nilon màu vàng và 01 chiếc tất chân màu vàng nâu. Một xe mô nhãn hiệu HONDA Wave α không gắn biển kiểm soát, tạm giữ của Lò Văn Đểu và Vì Văn Muôn, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tách ra để điều tra, xử lý trong 01 vụ việc khác.

Tại bản Kết luận giám định tư pháp số 25 ngày 28/02/2023 của người giám định theo vụ việc, kết luận: 02 gói chất bột màu trắng, thu giữ của Lò Văn Đ và Vì Văn M có tổng khối lượng 59,42 gam (gói ký hiệu M1 có khối lượng 37,39 gam, gói ký hiệu M2 có khối lượng 22,03 gam). Hội đồng mở niêm phong đã trích 0,16 gam của gói M1 và 0,16 gam của gói M2 gửi đi giám định chất ma túy.

Tại bản Kết luận giám định số 256 ngày 03/3/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu kết luận: 02 mẫu chất bột màu trắng (ký hiệu M1, M2) gửi giám định là ma túy, loại Heroine.

Bản cáo trạng số 58/CT - VKSSH ngày 26/7/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ đã Truy tố các bị cáo Lò Văn Đ, Vì Văn M ra trước Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu, để xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 3 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về các kết luận giám định và bản cáo trạng nêu trên.

Tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 249 Bộ luật hình sự, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Vì Văn M từ 11 năm 06 tháng đến 12 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 249 Bộ luật hình sự, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lò Văn Đ từ 12 năm đến 13 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 46, điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy vật chứng còn lại của vụ án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.

Người bào chữa cho các bị cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, miễn hình phạt bổ sung và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo. Các bị cáo nhất trí vời lời bào chữa của người bào chữa và không có tranh luận, bổ sung gì vào lời bào chữa, tại phiên tòa các bị cáo đề nghị được miễn án phí hình sư sơ thẩm.

Tại lời nói sau cùng bị cáo Muôn rất hối hận về hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo Đểu đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Sìn Hồ, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:

Lời khai nhận tội của các bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ để khẳng định: Hồi 00 giờ 10 phút ngày 28/02/2023, tại Km số 83 + 500 Tỉnh lộ 133, địa phận thuộc bản Tà Tủ, xã Nậm Tăm, huyện Sìn Hồ, tỉnh lai Châu, các bị cáo Lò Văn Đ, Vì Văn M đang thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 59,42 gam Heroine để sử dụng thì bị Tổ công tác Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sìn Hồ bắt quả tang.

Trong vụ án này, bị cáo Lò Văn Đ là người khởi xướng và là người trực tiếp bỏ tiền ra để mua Heroine rồi cầm về. Vì Văn M là đồng phạm giúp sức tích cực, đã cùng Lò Văn Đ đi mua Heroine, sau khi mua được Heroine, Vì Văn M là người trực tiếp điều khiển xe mô tô chở Đểu về, mục đích để được Đểu cho Heroine để sử dụng, do đó cả hai bị cào cùng phải chịu trách nhiệm hình sự về tổng khối lượng 59,42 gam Heroine

Các bị cáo đều là những người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Hành vi nêu trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách quản lý đặc biệt về các chất ma tuý của Nhà nước, Hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội. Ý thức được điều đó nhưng vì mục đích tàng trữ Heroine để sử dụng cho bản thân các bị cáo vẫn cố ý phạm tội nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định.

Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo Vì Văn M, Vì Văn Đ trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo đều đã thành khẩn khai báo, các bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại bản Nậm Há, xã Noong Hẻo, huyện Sìn Hồ xã đặc biệt khó khăn nên Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Lò Văn Đ không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự. Bị cáo Vì Văn M phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự

Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, xét nhân thân và các tình tiết Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để giáo dục, răn đe các bị cáo, giúp các bị cáo cải tạo, phấn đấu trở thành công dân tốt, sống tôn trọng quy định của pháp luật và có ích cho gia đình, xã hội. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên cần được chấp nhận. Xét đề nghị của người bào chữa về việc giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo là có căn cứ nên xem xét chấp nhận.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo làm nghề tự do công việc và thu nhập không ổn định, gia đình có hoàn cảnh khó khăn. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 46, điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy: Số Heroine còn lại: 59,1 gam. 01 túi nilon màu trắng, 01 mảnh nilon màu xanh, 01 mảnh nilon màu vàng.

Về các vấn đề liên quan:

Về nguồn gốc ma túy, các bị cáo Lò Văn Đểu, Vì Văn Muôn khai là mua của một người đàn ông khoảng 40 tuổi, không rõ lai lịch nên không có căn cứ để điều tra, xử lý.

Đối với Lò Văn V sinh năm 1991, trú tại bản Nậm Há, xã Noong Hẻo, huyện Sìn Hồ đứng tên đăng ký chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave α không gắn biển kiểm soát Cơ quan điều tra ra quyết định tách hành vi, tài liệu liên quan đến Lò Văn V cùng chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave α không gắn biển kiểm soát để tiếp tục xác minh. Kiến nghị Cơ quan CSĐT Công an huyện Sìn Hồ tiếp tục điều tra làm rõ và xử lý theo quy định của pháp luật.

Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 3, khoản 5 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 46, điểm a khoản 1 Điều 47, Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự. Điểm a, c khoản 2 Điều 106, Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án đối với cả hai bị cáo Lò Văn Đ, Vì Văn M. Áp dụng thêm điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Vì Văn M:

1. Tuyên bố các bị cáo Vì Văn M, Lò Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

2. Về hình phạt:

- Xử phạt bị cáo Vì Văn M: 12 (Mười hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Thời hạn tù tính từ ngày 28/02/2023. Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.

- Xử phạt bị cáo Lò Văn Đ: 12 (Mười hai) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Thời hạn tù tính từ ngày 28/02/2023. Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.

3. Về vật chứng của vụ án: Tịch thu, tiêu hủy: Vật chứng còn lại của vụ án: 59,1 gam Heroine. 01 túi nilon màu trắng, 01 mảnh nilon màu xanh, 01 mảnh nilon màu vàng. (Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng vào hồi 10 giờ 30 phút ngày 03/8/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Sìn Hồ với Chi Cục thi hành án dân sự huyện Sìn Hồ).

4. Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình lên Tòa án nhân dân cấp trên trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp trên trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ