vanban.org

Bản án 76/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương Tuyên án 31/08/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 47 Bộ luật Hình sự

năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Chí K - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 47 Bộ luật Hình sự
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 251 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÀU BÀNG Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 76/2023/HS-ST
Ngày 31-8-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Khoa.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Độ;

Ông Phạm Văn Thắng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Diễm Trang, là Thư ký Tòa án nhân dân

huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương tham

gia phiên tòa: Ông Thái Hoàng Giang – Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh

Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 67/2023/TLST-HS ngày 27 tháng 7 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2023/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:

Phạm Chí K, sinh năm 1989 tại Đồng Tháp; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú:

ấp K, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; tạm trú: khu phố F, phường T, thị xã B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn H (đã chết) và bà Trần Thị T (đã chết); tiền án, tiền sự: không; bị bắt, tạm giam từ ngày 19 tháng 3 năm 2023 cho đến nay, có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1987; nơi cư trú: ấp Q, xã A, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu, vắng mặt.

- Người làm chứng:

+ Ông La Văn T1, sinh năm 1999, vắng mặt.

+ Ông Lưu Minh Đ, sinh năm 1985, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ

án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ 00, ngày 19 tháng 3 năm 2023, Phạm Chí K được La Văn T1

gọi điện thoại hỏi mua 300.000 đồng ma túy, K đồng ý. Sau đó, K gói ma túy bên trong gói giấy nhỏ bỏ kèm 02 cục kẹo trái cây để trong gói hàng, K nhờ người giao hàng là Lưu Minh Đ đi giao hàng cho K để lấy tiền công ở gần nhà nghỉ 333 thuộc ấp M, xã L, huyện B, tỉnh Bình Dương, K nói bên trong gói hàng là thuốc kích dục, dặn Đ không được mở gói hàng ra, Đ đồng ý. Đến 10 giờ 00 cùng ngày, Đ đem gói hàng đến ở gần nhà nghỉ C để giao cho T1, thì T1 không có ở phòng trọ nên Đ quay về. Trong lúc Đ đang chuẩn bị quay xe về thì bị lực lượng Công an xã L tổ chức tuần tra vũ trang trên địa bàn xã phát hiện Đ có biểu hiện nghi vấn nên kiểm tra hành chính. Qua kiểm tra hành chính lực lượng Công an xã L trong túi áo khoác bên phải của Đ đang mặc có một túi nilon chứa 02 cục kẹo trái cây và mảnh giấy nhỏ hình chữ nhật bên trong có 01 đoạn nilon hàn kín hai đầu chứa tinh thể màu trắng. Qua làm việc Đ khai nhận đây là gói hàng Đ đi giao cho K nhằm lấy tiền công. Qua làm việc ban đầu Công an xã L đã phối hợp với Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B và Công an phường T, thị xã B, tỉnh Bình Dương khám xét khẩn cấp đối với Phạm Chí K và tạm giữ: 05 đoạn nylon hàn kín chứa chất tinh thể màu trắng (kí hiệu M1) và 02 gói nylon hàn kín chứa chất tinh thể màu trắng (kí hiệu M2); 02 viên kẹo trái cây và 01 mảnh giấy hình chữ nhật bên trong chứa 01 đoạn nylon hàn kín chứa chất tinh thể màu trắng (kí hiệu M3); 08 ống thủy tinh; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy có bình được làm bằng thủy tinh có gắn ống nhựa; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy có bình bằng thủy tinh; 06 hột quẹt gas, 01 kéo kim loại; 01 đoạn ống hút nhựa cắt nhọn đầu; 01 bộ khò có gắn ống thủy tinh; 10 ống hút nhựa; số tiền 1.500.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno5, số seri 73bb5733, tất cả đều của Phạm Chí K; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Blade màu đỏ đen, biển số 94B1-276.82, số máy JA36E0274604, số khung 3629EY148863 và 01 điện thoại di động hiệu OPPO A7, màu trắng của Lưu Minh Đ; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu trắng J7 Prime màu trắng của La Văn T1.

Ngày 19 tháng 3 năm 2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B, tỉnh

Bình Dương ra Quyết định trưng cầu giám định số 18 trưng cầu Phòng K1 Công an tỉnh B giám định thành phần và trọng lượng chất màu trắng, chất tinh thể màu trắng thu giữ của Phạm Chí K.

Tại Bản kết luận điều tra số 158/MT-PC09 ngày 24 tháng 3 năm 2023 kết

luận: Mẫu tinh thể màu trắng gửi giám định đều là ma tuý có khối lượng: 0,7940 gam (M1), 1,5642 gam (M2), 0,1720 gam (M3) tất cả là loại Methamphetamine.

Qua quá trình làm việc, Phạm Chí K thừa nhận 05 đoạn nylon hàn kín chứa

chất tinh thể màu trắng, 02 gói nylon hàn kín chứa chất tinh thể màu trắng và 01 đoạn nylon hàn kín chứa chất tinh thể màu trắng là ma túy loại Methamphetamine, được K mua vào ngày 17 tháng 3 năm 2023 của một đối tượng (không rõ họ tên, địa chỉ) tại khu vực đường M-T, thành phố T, tỉnh Bình Dương với giá là 1.500.000 đồng, rồi về để sử dụng và bán cho các con nghiện. K khai nhận ngoài bán ma túy cho T1 vào ngày 19 tháng 3 năm 2023, thì từ tháng 01 năm 2023 đến trước ngày 19 tháng 3 năm 2023, K dùng mạng xã hội Zalo để mua ma túy của đối tượng (không rõ họ tên, địa chỉ) ở khu V - T về để sử dụng và bán ma túy các đối tượng nghiện khác (không rõ họ tên, địa chỉ) trong đó bán cho La Văn T1 03 lần cụ thể như sau:

Lần 01: Vào khoảng giữa tháng 02 năm 2023, K trực tiếp bán ma túy cho

La Văn T1 với giá 300.000 đồng, giao nhận tại đường bê tông gần nhà nghỉ 333 tại ấp M, xã L, huyện B, tỉnh Bình Dương.

Lần 02: Cách lần đầu khoảng một tuần, K tiếp tục bán ma túy cho T1

với giá 200.000 đồng, giao nhận tại đường bê tông gần nhà nghỉ 333 ở ấp M, xã L, huyện B, tỉnh Bình Dương.

Lần 03: Vào tối ngày 17 tháng 3 năm 2023, K cất dấu ma túy trong một hộp

đựng mỹ phẩm rồi nhờ Lưu Minh Đ đi giao cho T1 tại đường bê tông gần nhà nghỉ C ở ấp M, xã L, huyện B, tỉnh Bình Dương với giá 300.000 đồng, Đ không biết bên trong có ma túy.

K khai nhận số tiền thu lợi bất chính từ việc bán ma túy cho các đối tượng

nghiện là 1.500.000 đồng.

Đối với Lưu Minh Đ công việc là giao hàng để kiếm sống, Đ không biết bên

trong gói hàng đi giao cho K có ma túy. Do đó, không đủ yếu tố cấu thành đồng phạm với K tội mua bán trái phép chất ma túy.

Đối với La Văn T1 khai nhận đã mua ma túy của K 03 lần, lần thứ tư ngày 19

tháng 3 năm 2023, đặt mua ma túy của K, do không còn tiền nên T1 không mua ma túy của K nữa. Do đó, hành vi của T1 không đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngoài ra, T1 có hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý” nên Cơ quan Công an huyện B đã ra quyết định xử phạt hành chính số 69 ngày 21 tháng 6 năm 2023 với số tiền 1.500.000 đồng đối với T1.

Đối với đối tượng bán ma túy cho K (không rõ họ tên, địa chỉ) hiện Cơ quan

Cảnh sát điều tra Công an huyện B đang xác minh làm rõ khi nào có kết quả sẽ xử lý sau.

Qua xác minh đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Blade màu đỏ đen, biển

số 94B1-276.82, số máy JA36E0274604, số khung 3629EY148863 chủ sở hữu là Nguyễn Thị H1 vợ của Lưu Minh Đ. Đây là tài sản hợp pháp của bà H1 nên ngày 21 tháng 6 năm 2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B đã ra quyết định xử lý vật chứng và bà H1 đã nhận lại tài sản trên.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu OPPO A7, màu trắng là tài sản hợp pháp

của Lưu Minh Đ, ngày 21 tháng 6 tháng 2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã ra quyết định xử lý vật chứng và ông Đ đã nhận lại tài sản trên.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu trắng J7 Prime màu

trắng là tài sản hợp pháp của La Văn T1, ngày 21 tháng 6 năm 2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B đã ra Quyết định xử lý vật chứng và ông T1 đã nhận lại tài sản trên.

Tại Bản Cáo trạng số 71/CTVKSBB ngày 27 tháng 7 năm 2023 của Viện kiểm

sát nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Phạm Chí K về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình

Dương giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh như Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình

sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Phạm Chí K với mức án từ 08 (tám) năm đến 10 (mười) năm tù.

Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ

sung năm 2017 và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

Đối với 0,7549 gam (M1); 0,15071 gam (M2); 0,1336 gam (M3) ma túy loại

Methamphetamine được hoàn lại sau khi giám định là vật chứng của vụ án và là chất ma túy mà nhà nước cấm tàng trữ mua bán, lưu hành đề nghị tịch thu tiêu hủy. Đối với 1.500.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno5, số Seri 73bb5733 có gắn sim số của Phạm Chí K. Đây là công cụ, phương tiện K dùng vào việc phạm tội và số tiền 1.500.000 đồng do K phạm tội mà có nên đề nghị tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

Đối với 02 viên kẹo trái cây và 01 mảnh giấy hình chữ nhật; 08 ống thủy tinh;

01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy có bình được làm bằng thủy tinh có gắn ống nhựa; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy có bình bằng thủy tinh; 06 hột quẹt gas; 01 kéo kim loại; 01 đoạn ống hút nhựa cắt nhọn đầu; 01 bộ khò có gắn ống thủy tinh; 10 ống hút nhựa là vật chứng của vụ án và không có giá trị sử dụng đề nghị tịch thu tiêu hủy.

Tiền thu lợi bất chính từ việc bán ma túy buộc bị cáo phải nộp 1.500.000

đồng.

Tại phiên tòa, bị cáo thống nhất với quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân

dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương và không có ý kiến tranh luận.

Bị cáo nói lời sau cùng: Hành vi của bị cáo là sai trái, vi phạm pháp luật. Bị

cáo rất ăn năn và hối hận, bị cáo xin được hưởng sự khoan hồng của Nhà nước và pháp luật để bị cáo có cơ hội sớm được trở về hòa nhập với xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được

tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện B, tỉnh

Bình Dương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Chí K đã thành khẩn khai nhận hành vi mua

bán trái phép chất ma túy như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, các tài liệu, chứng cứ thu giữ trong vụ án, lời khai của những người tham gia tố tụng khác. Hội đồng xét xử có căn cứ kết luận: từ tháng 01 đến ngày 19 tháng 3 năm 2023, tại đường bê tông gần nhà nghỉ C, tại ấp M, xã L, huyện B, tỉnh Bình Dương, bị cáo đã bán ma túy cho La Văn T1 04 lần. Do đó, có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Phạm Chí K phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 như Cáo trạng và kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Xét thấy, bị cáo đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi của bị cáo K là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý. Đồng thời, xâm phạm nghiêm trọng đến trật tự an toàn xã hội, gây hệ quả xấu cho con người, là nguyên nhân gây ra các căn bệnh xã hội và các loại tội phạm khác. Về nhận thức, bị cáo biết được hành vi mua bán trái phép chất ma túy là trái quy định của pháp luật nhưng để có tiền tiêu xài và thỏa mãn cơn nghiện cho bản thân, bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù trong một thời gian nhất định để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết tăng nặng,

giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo như sau:

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn

năn hối cải theo quy định tại các điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xét đề nghị của Kiểm sát viên về mức hình phạt đối với bị cáo tại phiên

tòa là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về tiền thu lợi từ việc bán ma túy: Tại phiên tòa, bị cáo K khai bán ma túy

thu lợi số tiền là 1.500.000 đồng nên buộc bị cáo phải nộp lại số tiền này vào ngân sách Nhà nước theo quy định của pháp luật.

Về vật chứng: Đối với 0,7549 gam (M1); 0,15071 gam (M2); 0,1336 gam

(M3) ma túy loại Methamphetamine được hoàn lại sau khi giám định, là vật chứng của vụ án và là chất mà Nhà nước cấm tàng trữ mua bán, lưu hành. Đối với 02 viên kẹo trái cây và 01 mảnh giấy hình chữ nhật; 08 ống thủy tinh; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy có bình được làm bằng thủy tinh có gắn ống nhựa; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy có bình bằng thủy tinh; 06 hột quẹt gas; 01 kéo kim loại; 01 đoạn ống hút nhựa cắt nhọn đầu; 01 bộ khò có gắn ống thủy tinh; 10 ống hút nhựa là vật chứng của vụ án và không có giá trị sử dụng nên Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy. Đối với số tiền 1.500.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno5, số seri 73bb5733 có gắn sim số của Phạm Chí K. Đây là công cụ, phương tiện K dùng vào việc phạm tội mà có nên Hội đồng xét xử tịch thu nộp ngân sách Nhà nước theo quy định tại Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Về án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo phải chịu án phí theo quy định của

pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 47 Bộ luật Hình sự

năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Các Điều 106, 292, 293, 299 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về

mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

1. Tuyên bố bị cáo Phạm Chí K phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Phạm Chí K 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19 tháng

3 năm 2023.

2. Về xử lý vật chứng:

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 1.500.000 đồng và 01 điện thoại di

động nhãn hiệu OPPO Reno5, số Seri 73bb5733 có gắn sim số của Phạm Chí K.

Tịch thu tiêu hủy: Vật hoàn lại sau giám định gồm: 0,7549 gam (M1); 0,15071

gam (M2); 0,1336 gam (M3) ma túy loại Methamphetamine, 02 viên kẹo trái cây, 01 mảnh giấy hình chữ nhật, 08 ống thủy tinh, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy có bình được làm bằng thủy tinh có gắn ống nhựa, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy có bình bằng thủy tinh, 06 hột quẹt gas, 01 kéo kim loại, 01 đoạn ống hút nhựa cắt nhọn đầu, 01 bộ khò có gắn ống thủy tinh, 10 ống hút nhựa.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 25 tháng 7 năm 2023 và chứng từ

giao dịch ngày 19 tháng 7 năm 2023 của Ngân hàng TMCP V chi nhánh B).

Về tiền thu lợi bất chính: Buộc bị cáo phải nộp ngân sách Nhà nước số tiền

1.500.000 (một triệu năm trăm nghìn) đồng.

3. Về án phí: Bị cáo Phạm Chí K phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án

phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày

kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ