vanban.org

Bản án 76/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Phƣơng Ng đƣợc ly hôn với ông Trần Minh Th (giấy chứng nhận kết hôn số 333/2010 quyển số 02 do UBND phƣờng Dĩ An, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng cấp ngày 09 tháng 12 năm 2010).

Về con chung: Ông Trần Minh Th giao con chung tên Trần Nguyễn Tú M, sinh ngày 21/02/2017 cho bà Nguyễn Thị Phƣơng Ng trực tiếp nuôi dƣỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Ng không yêu cầu ông Th cấp dƣỡng nuôi con. Sau khi ly hôn bà Ng phải tạo điều kiện cho ông Th trong việc chăm sóc, thăm nom, giáo d… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Nguyển Thị Phương Ng yêu cầu được ly hôn với ông Trần Minh Th"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Phƣơng Ng đƣợc ly hôn với ông Trần Minh Th (giấy chứng nhận kết hôn số 333/2010 quyển số 02 do UBND phƣờng Dĩ An, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng cấp ngày 09 tháng 12 năm 2010).
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 229 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 235 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
——————————
Bản án số: 76/2023/HNGĐ-ST
Ngày 08-6-2023
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Hoa

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Từ Anh Tuấn;

2. Bà Phạm Tú Nhi.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tố Anh- Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy An - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 6 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 111/2023/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 3 năm 2023 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 59/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 5 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 51/2023/QĐST-DS ngày 22 tháng 5 năm 2023, giữa các đƣơng sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Phƣơng Ng, sinh năm 1985; địa chỉ: Số 49E/3, Tổ 1, Khu phố 2, phƣờng An Phú, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Bị đơn: Ông Trần Minh Th, sinh năm 1991; thƣờng trú: Số 67 (số cũ 2/7) đƣờng Cây Găng Cây Sao, khu phố Nhị Đồng 2, phƣờng Dĩ An, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 13 tháng 01 năm 2023 và quá trình tố tụng nguyên đơn bà Nguyễn Thị Phương Ng trình bày:

Bà và ông Th có tìm hiểu nhau một thời gian thì tự nguyện chung sống, hai bên có tổ chức đám cƣới, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phƣờng Dĩ An, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng và đƣợc cấp giấy chứng nhận kết hôn số 333/2010 quyển số 02 ngày 09 tháng 12 năm 2010. Việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện.

Sau khi kết hôn vợ chồng sinh sống cùng gia đình chồng tại phƣờng Dĩ An, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng, sau đó thì chuyển về sinh sống tại nhà riêng ở An Phú, Thuận An, Bình Dƣơng. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến cuối năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm, tính tình không hợp nhau nên không chia sẻ đƣợc các vấn đề phát sinh trong cuộc sống nên vợ chồng thƣờng xuyên cãi nhau. Mặc dù hai bên đã cố gắng hàn gắn tình cảm nhƣng không có kết quả. Vì vậy, cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc, vợ chồng không còn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt đƣợc, vợ chồng bà bắt đầu sống ly thân từ đầu năm 2020 đến nay, hai bên không còn quan tâm, chăm sóc nhau, mạnh ai nấy sống. Nay bà xác định tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu đƣợc ly hôn với ông Th.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Trần Nguyễn Tú M, sinh ngày 21/02/2017. Sau khi ly hôn bà yêu cầu đƣợc trực tiếp nuôi con chung và không yêu cầu ông Th cấp dƣỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung về tài sản: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn ông Trần Minh Th đã đƣợc Tòa án triệu tập lên cung cấp bản tự khai, cung cấp chứng cứ và tham gia hòa giải vào ngày 05/4/2023, tham gia phiên tòa vào các ngày 22/5 và 08/6/2023 nhƣng vắng mặt không có lý do nên không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà Ng, không cung cấp tài liệu chứng cứ và cũng không có ý kiến yêu cầu triệu tập thêm ngƣời tham gia tố tụng.

- Tại Biên bản xác minh ngày 29/3/2023, Hội Liên hiệp phụ nữ phường Dĩ An cung cấp thông tin như sau: Hội liên hiệp phụ nữ phƣờng không nhận đƣợc đơn đề nghị hòa giải hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Phƣơng Ng với ông Trần Minh Th, đồng thời Hội cũng không tiếp nhận phản ánh từ cơ sở về mâu thuẫn giữa hai ông, bà do đó không biết rõ mâu thuẫn giữa vợ chồng bà Ng, ông Th và cũng không biết tình trạng chăm sóc con của ông, bà nhƣ thế nào.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán đƣợc phân công thụ lý, giải quyết vụ án đã đƣợc thực hiện đúng, đầy đủ theo quy định tại Điều 203 Bộ luật Tố tụng Dân sự, tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

Sự chấp hành pháp luật của đƣơng sự: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và các quy định pháp luật liên quan, nguyên đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt tại phiên tòa. Bị đơn đã đƣợc triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa nhƣng vắng mặt không có lý do nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, 228 để xét xử vắng mặt các đƣơng sự.

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án nhận thấy yêu cầu ly hôn của nguyên đơn là có cơ sở theo quy định pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Phƣơng Ng và ông Trần Minh Th là vợ chồng có đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 333/2010 quyển số 02 ngày 09 tháng 12 năm 2010, nên là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

Theo đơn khởi kiện và lời trình bày trong quá trình tố tụng nguyên đơn xác định mâu thuẫn vợ chồng là do tính tình không hợp nhau, thƣờng xuyên cãi nhau, vợ chồng đã có thời gian sống ly thân từ đầu năm 2020 đến nay, ông bà không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau, không chăm sóc nhau và không còn cùng nhau chăm sóc con cái. Quá trình tố tụng Tòa án đã triệu ông Th để hòa giải nhằm hàn gắn tình cảm vợ chồng nhƣng ông Th bỏ mặc không quan tâm đến hòa giải đoàn tụ, hàn gắn quan hệ hôn nhân gia đình. Nhƣ vậy, chứng tỏ mục đích của cuộc hôn nhân không đạt đƣợc, mâu thuẫn đã thực sự trầm trọng không thể hàn gắn vì vậy yêu cầu xin ly hôn của bà Ng là có căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: Vợ chồng ông, bà có 01 con chung tên Trần Nguyễn Tú M, sinh ngày 21/02/2017. Quá trình tố tụng bà Ng có yêu cầu đƣợc nuôi con chung, ông Th không có ý kiến gì về việc nuôi con. Xét, việc giao con cho ai chăm sóc phải đảm bảo sự phát triển tốt nhất cho con, con chung tên Trần Nguyễn Tú M hiện nay đang ở với bà Ng từ khi vợ chồng sống ly thân đến nay và cháu My là con gái cần sự chăm sóc của mẹ. Vì vậy, Hội đồng xét xử sẽ giao con chung cho bà Ng trực tiếp nuôi dƣỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Ng về việc không yêu cầu ông Th cấp dƣỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đƣơng sự không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.

Từ những phân tích trên, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An là có cơ sở chấp nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Phƣơng Ng phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 4 Điều 147, các Điều 229, 235, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; các Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Phƣơng Ng đƣợc ly hôn với ông Trần Minh Th (giấy chứng nhận kết hôn số 333/2010 quyển số 02 do UBND phƣờng Dĩ An, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng cấp ngày 09 tháng 12 năm 2010).

2. Về con chung: Ông Trần Minh Th giao con chung tên Trần Nguyễn Tú M, sinh ngày 21/02/2017 cho bà Nguyễn Thị Phƣơng Ng trực tiếp nuôi dƣỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Ng không yêu cầu ông Th cấp dƣỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn bà Ng phải tạo điều kiện cho ông Th trong việc chăm sóc, thăm nom, giáo dục con, không ai có quyền cản trở ông, bà thực hiện quyền này. Vì lợi ích về mọi mặt của con khi một hoặc hai bên đƣơng sự có yêu cầu, Tòa án sẽ quyết định thay đổi ngƣời trực tiếp nuôi con và việc cấp dƣỡng.

3. Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản (nợ chung): Đƣơng sự không yêu cầu, Tòa án không giải quyết.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Phƣơng Ng phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn đƣợc khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0006198 ngày 23 tháng 3 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa đƣợc quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mƣời lăm) ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết theo quy định pháp luật/.

Cỡ chữ