- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn Triệu phạm tội Vi phạm quy định về tha gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt: Căn cứ điểm a khoản 2 điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự:
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH SƠN LA Bản án số: 76/2022/HSST Ngày 27 tháng 01 năm 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Bá Toàn.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Quàng Văn Tiện
2. Ông Hà Văn Cương
- Thư ký phiên toà: Ông Bùi Quang Hùng - Thư ký Toà án nhân dân
huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã tham gia phiên toà:
Ông Trần Thanh Quân - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 01 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 78/2022/HSST ngày 06 tháng 01 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 76/2022/HSST-QĐ ngày 17 tháng 01 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Văn T - Sinh năm 1989; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Bản H, xã C, huyện S, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng, đoàn thể: Không; Trình độ văn hoá: 11/12; Con ông Lê Văn C và bà Nguyễn Thị H; Có vợ là Bạc Thị N và 03 con (con lớn nhất sinh năm 2012, con nhỏ nhất sinh năm 2014); Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 28/10/2021 đến ngày 16/12/2021 được tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
* Những người bị hại:
1. Ông Đào Kim T - Sinh năm 1963 (đã chết).
Những người điện diện hợp pháp của người bị hại Đào Kim T:
- Bà Đào Thị M - Sinh năm 1924 (là mẹ đẻ của người bị hại);
- Bà Nguyễn Thị P - Sinh năm 1962 (là vợ của người bị hại);
- Anh Đào Trọng T - Sinh năm 1987 (là con đẻ của người bị hại);
- Anh Đào Công H - Sinh năm 1989 (là con đẻ của người bị hại).
Đều trú tại: Bản L, xã C, huyện S, tỉnh Sơn La;
- Chị Đào Thị N - Sinh năm 1991 (là con đẻ của người bị hại); Trú tại: Thôn 4, xã Đ, huyện C, thành phố Hà Nội.
Người đại diện hợp pháp được ủy quyền: Anh Đào Công H - Sinh năm 1989. Có mặt.
2. Chị Lò Thị P - Sinh năm 2007; Trú tại: Bản H, xã C, huyện S, tỉnh Sơn La. Có mặt.
Người đại diện hợp pháp của chị Lò Thị P: Ông Lò Văn N - Sinh năm 1979 (là bố đẻ). Có mặt.
3. Anh Lường Văn Q - Sinh năm 2003; Trú tại: Bản H, xã C, huyện S, tỉnh Sơn La. Có mặt.
4. Anh Lò Văn T - Sinh năm 1999; Trú tại: Bản H, xã C, huyện S, tỉnh Sơn La. Có mặt.
5. Anh Lường Văn H - Sinh năm 1983; Trú tại: Bản L, xã C, huyện S, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ 30 phút cùng 02/9/2021, T nhận được điện thoại của 01 người lạ không quen biết hỏi thuê xe ô tô lên xã Chiềng Sơ, huyện Sông Mã để chở long nhãn, T đồng ý rồi một mình điều khiển xe ô tô tải loại 1,4 tấn nhãn hiệu KIA, biển kiểm soát 30P - 1447 của gia đình đi từ bản Nhạp, xã Chiềng Cang theo đường Quốc lộ 4G đến xã Chiềng Sơ chở hàng thuê, trong quá trình di chuyển T điều khiển xe ô tô đi giữa đường, phần bánh xe bên ghế lái ở trên phần đường bên trái theo hướng Sơn La - Sông Mã. Đến khoảng 16 giờ 40 phút cùng ngày, T điều khiển xe đi đến Km 80+900 Quốc lộ 4G thuộc địa phận bản Lè, xã Chiềng Khoong, khi vừa đi qua đỉnh dốc, bắt đầu xuống dốc thì phía trước cách khoảng 20 mét có 03 phương tiện đi ngược chiều ở trên phần đường bên phải theo hướng Sông Mã - Sơn La, lần lượt là xe mô tô Yamaha exciter, biển kiểm soát 26C1-242.67 do Lò Văn T điều khiển chở theo Lò Thị P ngồi sau; Đi phía sau xe của T cách khoảng 15 mét là xe máy Detech biển kiểm soát 26AA - 092.23 do Lường Văn Q điều khiển; Phía sau cùng cách khoảng 05 mét là xe máy điện do Đào Kim T điều khiển đi một mình. Lúc này, T bị mất bình tĩnh tiếp tục điều khiển xe ô tô đi nhanh không giảm tốc độ và lấn sang phần đường bên trái theo hướng đi của T rồi đâm vào phần sườn, đuôi bên trái xe mô tô biển kiểm soát 26C1 - 242.67 do T điều khiển làm cho xe mô tô bị mất lái ngã văng vào lề đường bên trái. Sau khi đâm vào xe mô tô, T hoảng loạn nên đạp nhầm chân ga đi thẳng ở phần đường bên trái tiếp tục đâm vào xe máy biển kiểm soát 26AA - 092.23 do Q điều khiển làm cho xe máy và Q ngã ra mặt đường bị mắc vào phần cản trước bên trái của xe ô tô bị kéo lê trên mặt đường khoảng 01 mét. Xe ô tô do Triệu điều khiển tiếp tục đâm vào xe máy điện do T điều khiển đang đi sát ở lề đường bên trái theo hướng đi của T làm cho xe máy điện và T ngã ra mặt đường tiếp tục bị mắc vào phần cản trước bên trái của xe ô tô. Sau đó, xe ô tô của Triệu tiếp tục kéo lê xe máy, xe máy điện cùng Q và T trên mặt đường thêm khoảng 05 mét thì Q, T và hai phương tiện bị văng vào trong lề đường trái. Xe ô tô của T tiếp tục đâm vào cổng nhà anh Lường Văn H rồi dừng lại. Hậu quả: Ông Đào Kim T bị tử vong tại chỗ; Lường Văn Q, Lò Văn T Lò Thị P bị thương được đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa huyện Sông Mã, 04 phương tiện và cổng nhà của anh Lường Văn H bị hư hỏng.
Tại thời điểm gây tai nạn Lê Văn T chưa có giấy phép lái xe ô tô. Kết quả kiểm tra nồng độ cồn trong hơi thở của Lê Văn T ngày 03/9/2021 nồng độ trong hơi thở của T là 0,000mg/L; Kết quả test ma túy T âm tính với chất ma túy.
Kết quả khám nghiệm hiện trường xác định: Địa điểm xảy ra tai nạn là Km 80 + 900 quốc lộ 4G thuộc bản Lè, Chiềng Khoong, Sông Mã. Hướng Nam là hướng giao thông đi thành phố Sơn La; hướng Đông tiếp giáp đất vườn của nhà ông Lò Văn C, ông Lường Văn H, Lường Văn H; hướng Bắc là hướng giao thông đi thị trấn Sông Mã; hướng Tây tiếp giáp khu vực nhà ở của Lường Văn N, Tòng Văn T. Đoạn đường xảy ra tai nạn có dải nhựa áp phan, mặt đường bằng phẳng không trơn trượt. Lòng đường rộng 5,75m, lề đường phải rộng 1,5m, lề đường trái rộng 1,7m.
Xác định vị trí nằm của Lò Thị P bên lề đường trái, cách mép đường bên trái hướng Sông Mã - Sơn La (mép chuẩn hướng khám nghiệm) là 3,8m. Vị trí của Lường Văn Q nằm trên phần đường bên trái, cách mép chuẩn là 1,5m. Vị trí của Đào Kim T nằm trên phần đường bên trái, cách mép chuẩn là 1,30m.
Xác định vị trí của các xe mô tô biển kiểm soát 26C1-24267; Xe mô tô hiệu biển kiểm soát 26AA- 09223; Xe máy điện hiệu Electric Bicyces; Xe ô tô tải hiệu biển kiểm soát 30P-1447 nằm trên lề đường trái phía trước cửa nhà anh Lường Văn H, đầu xe quay hướng Tây, đuôi quay hướng Đông, cách mép đường chuẩn là 3,30m. Xác định tập hợp các mảnh nhựa, 01 chiếc dép; các vết cầy trượt trên đường tại hiện trường
Kết quả khám nghiệm phương tiện: Đã ghi nhận những hư hỏng của một số bộ phận xe ô tô tải Nhãn hiệu KIA FRONTIER biển kiểm soát 30P - 1447; Xe mô tô biển kiểm soát 26C1-242.67; Xe máy biển kiểm soát 26AA- 092.23 và xe máy điện Nhãn hiệu Detech không biển kiểm soát.
Khám nghiệm xác định tử thi là ông Đào Kim T, sinh năm 1963, trú tại bản Liên Phương, xã Chiềng Khoong, huyện Sông Mã. Kết luận giám định pháp y về tử thi số 81/TT ngày 04/10/2021 của Trung tâm pháp y Sở Y tế tỉnh Sơn La kết luận nguyên nhân chết của Đào Kim T: “Chấn thương ngực kín, sập lồng ngực, tràn máu nhu mô phổi là nguyên nhân gây tử vong”.
Kết luận giám định pháp y về thương tích số 223/TgT ngày 28/9/2021 của Trung tâm pháp y tỉnh Sơn La đối với Lò Văn T; kết luận: “Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là: 14% (Mười bốn phần trăm)”.
Kết luận giám định pháp y về thương tích số 224/TgT ngày 28/9/2021 của Trung tâm pháp y tỉnh Sơn La đối với Lò Thị P; kết luận: “Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là: 11% (Mười một phần trăm)”.
Kết luận giám định pháp y về thương tích số 225/TgT ngày 28/9/2021 của Trung tâm pháp y tỉnh Sơn La đối với Lê Văn T; kết luận: “Tỷ lệ tổn thương cở thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là: 06% (Sáu phần trăm)”.
Kết luận giám định pháp y về thương tích số 295/TgT ngày 13/12/2021 của Trung tâm pháp y tỉnh Sơn La đối với Lường Văn Q; kết luận: “Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 78% (Bảy mươi tám phần trăm)”.
Kết luận định giá tài sản số 31/KL ngày 10/10/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Sông Mã kết luận: “1. Xe máy hiệu Detech, màu sơn trắng - đen biển kiểm soát 26AA - 09223; Số khung RPEVCB4PEJA419962; Số máy VDEJQ139FMB - 3419962, các bộ phận hư hỏng có trị giá tổng cộng 3.300.000 đồng; 2. Xe ôtô BKS 30P - 1447 nhãn hiệu KIA Frontier, loại xe 1,1 tấn màu sơn xanh; Số khung 033310; Số máy 583021, các bộ phận hư hỏng có trị giá tổng cộng 21.400.000 đồng; 3. Xe máy điện hiệu Electricbioycos133, xe không có biển kiểm soát; Số khung Rlpyhdgumfbm00862; Số máy G48V500W150500862, các bộ phận hư hỏng có trị giá tổng cộng 5.510.000 đồng; 4. Xe môtô biển kiểm soát 26C1 - 242.67 hiệu Yamaha Exciter màu sơn đỏ - đen; Số khung BLCUG0610HY521633; Số máy G304E544609, các bộ phận hư hỏng có trị giá tổng cộng 4.540.000 đồng; 5. Phần tài sản của nhà dân do xe ô tô tải BKS 30P-1447 làm hư hỏng có giá trị tổng cộng là 1.970.000 đồng”.
Kết quả khám nghiệm phương tiện, tử thi phù hợp với dấu vết tại hiện trường gây tai nạn.
Cáo trạng số 10/CT-VKS ngày 06 tháng 01 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La đã truy tố bị cáo Lê Văn T về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La giữ quan điểm truy tố và đề nghị: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lê Văn T 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm. Không áp dụng hình phạt bổ sung.
Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận việc bị cáo đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường và bồi thường xong cho các bị hại, người đại diện hợp pháp của người bị hại các khoản cụ thể:
- Tiền mai táng phí, tổn thất tinh thần, tài sản bị hư hỏng cho người đại diện hợp pháp của bị hại Đào Kim T là 80.000.000đ;
- Tiền bồi thường thiệt hại về sức khỏe, tiền viện phí, tài sản bị hư hỏng cho người bị hại Lò Thị P là 8.000.000đ, cho người bị hại Lò Văn T là 8.000.000đ, cho người bị hại Lường Văn Q là 108.000.000đ.
- Thiệt hại về tài sản cho người bị hại Lường Văn H là 10.000.000đ.
Về vật chứng: Trả lại 01 xe mô tô biển kiểm soát 26C1- 242.67, 01 xe máy biển kiểm soát 26AA - 092.23 và 01 yên xe và cốp xe máy, 01 xe máy điện nhãn hiệu Electricbioycos133 không có biển kiểm soát cho các chủ sở hữu hợp pháp; Tịch thu tiêu hủy 27 mảnh nhựa, 02 chiếc dép nhựa, 02 chiếc dép xốp, 01 mũ bảo hiểm, 01 áo dài tay và 02 chiếc quần đùi.
Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo cho bị cáo, đại diện hợp pháp của người bị hại và người bị hại.
Tại phiên toà người đại diện theo ủy quyền của những người đại diện hợp pháp của người bị hại Đào Kim T trình bày: Bị cáo và gia đình đã tự nguyện thỏa thuận với gia đình người bị hại về tiền bồi thường các khoản gồm tiền mai táng phí, tiền bồi thường tổn thất tinh thần với tổng số tiền là 80.000.000đ, bị cáo đã bồi thường xong. Đại diện của người bị hại có ý kiến được xin lại chiếc xe máy điện của ông T đã được thu giữ trong vụ án, ngoài ra không có đề nghị gì thêm và xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, tạo điều kiện cho bị cáo được hưởng án treo.
Tại phiên toà người bị hại Lò Thị P, người đại diện hợp pháp của Lò Thị P và những người bị hại Lường Văn Q, Lò Văn T trình bày: Sau khi tai nạn xảy ra bị cáo cùng gia đình đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường và đã được bồi thường xong theo thỏa thuận; Cụ thể: người bị hại Lò Thị P được bồi thường 8.000.000đ, người bị hại Lò Văn T được bồi thường 8.000.000đ, người bị hại Lường Văn Q được bồi thường 108.000.000đ, người bị hại Lường Văn H được bồi thường 10.000.000đ. Các bị hại và người đại diện hợp pháp không có yêu cầu và đề nghị gì thêm và đều xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và đề nghị được trả lại các tài sản của mình là vật chứng đã thu giữ trong vụ án.
Tại phiên tòa bị cáo nhất trí với nội dung bản cáo trạng và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, nhất trí với nội dung về việc bồi thường dân sự đúng như người đại diện hợp pháp của bị hại và các bị hại đã trình bày. Khi được nói lời sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và tạo điều kiện cho bị cáo được hưởng án treo cải tạo tại địa phương.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện Sông Mã, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người đại diện hợp pháp của người bị hại, người bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về các chứng cứ xác định tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với Biên bản kiểm tra kiểm tra nồng độ cồn, kết quả Test ma túy đối với Lê Văn T; Biên bản khám nghiệm hiện trường và Biên bản khám nghiệm các phương tiện; Biên bản khám nghiệm tử thi đối với Đào Kim T; Kết luận giám định số 81 ngày 04/10/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận nguyên nhân chết của ông Đào Kim T; Các Kết luận giám định pháp y của Trung tâm pháp y tỉnh Sơn La về thương tích số 233, 224, 225 ngày 28/9/2021 lần lượt đối với Lò Văn T, Lò Thị P, Lê Văn T; Kết luận giám định pháp y về thương tích số 295 ngày 13/12/2021 đối với Lường Văn Q; Kết quả định giá tài sản số 31/KL ngày 10/10/2021 của Hội đồng định giá tài sản huyện Sông Mã của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS thuộc UBND huyện Sông Mã. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các chứng cứ nêu trên và phù hợp với lời khai của các nhân chứng.
Với các căn cứ chứng minh trên, có đủ cơ sở kết luận ngày 02/9/2021 bị cáo Lê Văn T điều khiển xe ô tô tham gia giao thông không sử dụng rượu, bia, ma túy, chất kích thích mạnh khác nhưng không có giấy phép lái xe theo quy định, trong quá trình điều khiển phương tiện tham gia giao thông không tuân thủ quy tắc giao thông đường bộ, lấn làn của xe đi ngược chiều gây tai nạn. Hậu quả làm 01 người chết, gây thương tích cho 03 người với tổng tỷ lệ thương tích là 103% và gây thiệt hại tài sản có tổng giá trị là 36.720.000đ.
Hành vi của bị cáo Lê Văn T đã phạm tội: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm a khoản 2 điều 260 Bộ luật Hình sự, thuộc trường hợp “Không có giấy phép lái xe theo quy định”.
Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã truy tố và Tòa án nhân huyện Sông Mã xét xử bị cáo là chính xác, đúng người, đúng tội, đảm bảo theo đúng quy định của pháp luật, không oan sai cho bị cáo.
Xét tính chất mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp rất nghiêm trọng; Bị cáo nhận thức được khi điều phương tiện tham gia giao thông thì phải có giấy phép lái xe theo quy định, quá trình tham gia giao thông phải tuân thủ các quy tắc giao thông và quan sát làn đường, phần đường của mình; Tuy nhiên, khi điều khiển xe ô tô tham gia giao thông đường bộ bị cáo đã không tuân thủ các nguyên tắc trên và khi điều khiển xe xuống dốc đã không giảm tốc độ, không tránh xe đi ngược chiều và đi vào phần đường bên trái là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến tai nạn, gây ra hậu quả nghiêm trọng làm thiệt hại tính mạng, tài sản và sức khỏe của người khác.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn, hối cải, bị cáo đã tích cực bồi thường và bồi thường xong cho đại diện hợp pháp của người bị hại, người bị hại và được đại diện hợp pháp của người bị hại, người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo có nhân thân tốt, không có tình tiết tăng nặng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng, nên không cần thiết phải buộc chấp hành hình phạt tù có thời hạn, việc cho bị cáo hưởng án treo cũng không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương, phù hợp với quan điểm của Viện kiểm sát. Từ những nhận định trên Hội đồng xét xử thấy bị cáo có đủ điều kiện để áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự, tạo điều kiện để các bị cáo sửa chữa lỗi lầm trở thành công dân tốt sống có ích cho gia đình và xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không hành nghề lái xe hoặc đảm nhận các công việc có liên quan đến việc lái xe do vậy không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 260 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và người đại diện hợp pháp của người bị hại Đào Kim T đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường và bồi thường xong các khoản: mai táng phí, tổn thất tinh thần, tài sản bị thiệt hại với tổng số tiền là 80.000.000đ; Bị cáo và người đại diện hợp pháp của người bị hại Lò Thị P, người bị hại Lò Thị P, Lường Văn Q, Lò Văn T, Lường Văn H đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường và bồi thường xong tiền về tổn thất sức khỏe, viện phí, tài sản bị thiệt hại, cụ thể: người bị hại Lò Thị P được bồi thường 8.000.000đ, Lường Văn Q được bồi thường 108.000.000đ, Lò Văn T được bồi thường 8.000.000đ, Lường Văn H được bồi thường 10.000.000đ và không ai có yêu cầu và đề nghị gì thêm. Xét các thỏa thuận trên là tự nguyện, không trái đạo đức xã hội, không vi phạm điều cấm của pháp luật nên cần chấp nhận.
Về các vấn đề khác có liên quan trong vụ án: Đối với xe ô tô biển kiểm soát 30P-1447 xe có giấy chứng nhận đăng ký mang tên Nguyễn Duy C do Công an thành phố Hà Nội cấp ngày 28/02/2009. Xác định được chiếc xe là tài sản chung của gia đình Lê Văn T mua lại từ tháng 02/2021 nhưng chưa làm thủ tục sang tên đổi chủ. Xe không có trong dữ liệu vật chứng trong vụ án khác Công an tỉnh Sơn La. Ngày 05/01/2022 Viện kiểm sát đã trao trả lại cho Lê Văn T là có căn cứ.
Đối với Lò Văn T không đội mũ bảo hiểm khi điều khiển xe mô tô tham gia giao thông và không có giấy phép lái xe theo quy định, chở theo Lò Thị P ngồi sau không đội mũ bảo hiểm; khi điều khiển phương tiện tham gia giao thông Tài có nồng độ cồn trong hơi thở là 0,633mg/L. Đối với Q khi điều khiển xe máy tham giao thông không đội mũ bảo hiểm, có nồng độ cồn trong hơi thở là 04mg/100ml. Các hành vi trên của T, P, T là hành vi vi phạm hành chính nên ngày 13/12/2021 Công an huyện Sông Mã đã ra quyết định xử phạt hành chính đối với T, T và không xử phạt vi phạm hành chính với P vì chưa đủ 14 tuổi là có căn cứ và đúng quy định.
Về vật chứng vụ án: đối với các mảnh nhựa vỡ, 02 quần, 01 áo dài tay, 02 chiếc dép xốp, 02 chiếc dép nhựa, 01 mũ bảo hiểm loại nửa đầu là các tải sản đã cũ hỏng không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy. Đối với xe mô tô BKS 26C1- 242.67, 01 xe máy BKS 26AA - 092.23 và phần yên xe và cốp xe, 01 chiếc xe máy điện xác định được là tài sản hợp pháp của những người bị hại và những người bị hại, đại diện hợp pháp của người bị hại đều có ý kiến được xin lại các tài sản này, do vậy cần trả lại.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Về đề nghị của Kiểm sát viên: Đề nghị của Kiểm sát viên về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt và các vấn đề liên quan khác là phù hợp, nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt: Căn cứ điểm a khoản 2 điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn T phạm tội: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.
Xử phạt bị cáo Lê Văn T 36 (ba mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo - Thời gian thử thách 60 (sáu mươi) tháng - Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 27/01/2022.
Giao bị cáo Lê Văn T cho Uỷ ban nhân dân xã Chiềng Khoong, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã Chiềng Khoong trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Tiếp tục cấm bị cáo Lê Văn T đi khỏi nơi cư trú cho đến khi nhận được Bản án và Quyết định thi hành án của Tòa án.
2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào các Điều 584, 585, 586, 289, 590, 591 Bộ luật Dân sự:
- Ghi nhận việc bị cáo và đại diện hợp pháp của người bị hại Đào Kim T đã tự nguyện thoả thuận bồi thường và bồi thường xong tiền mai táng phí, tổn thất tinh thần, tài sản bị hư hỏng, với tổng số tiền là 80.000.000đ (tám mươi triệu đồng).
- Ghi nhận bị cáo và đại diện hợp pháp của người bị hại Lò Thị P, người bị hại Lò Thị P đã tự nguyện thoả thuận bồi thường và bồi thường xong tiền thiệt hại về sức khỏe, tiền viện phí là 8.000.000đ (tám triệu đồng).
- Ghi nhận bị cáo và người bị hại Lường Văn Q đã tự nguyện thoả thuận bồi thường và bồi thường xong tiền thiệt hại về sức khỏe, tiền viện phí, tài sản bị hư hỏng là 108.000.000đ (một trăm linh tám triệu đồng).
- Ghi nhận bị cáo và người bị hại Lò Văn T đã tự nguyện thoả thuận bồi thường và bồi thường xong tiền thiệt hại về sức khỏe, tiền viện phí, tài sản bị hư hỏng là 8.000.000đ (tám triệu đồng).
- Ghi nhận bị cáo và người bị hại Lường Văn H đã tự nguyện thoả thuận bồi thường và bồi thường xong tiền tài sản bị hư hỏng là 10.000.000đ (mười triệu đồng).
3. Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Các điểm a, c khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 27 mảnh nhựa có kích thước, màu sắc khác nhau; 02 chiếc dép nhựa màu xanh đen; 02 chiếc dép xốp màu trắng hoa văn đen; 01 mũ bảo hiểm loại nửa đầu; 01 chiếc áo dài tay màu xanh; 01 chiếc quần đùi chun màu xanh dương, 01 chiếc quần đùi màu xám.
- Trả lại cho người đại diện hợp pháp của người bị hại Đào Kim T: 01 chiếc xe máy điện, nhãn hiệu Electricbioycos133.
- Trả lại cho người bị hại Lường Văn Q: 01 xe máy nhãn hiệu DETECH, 01 biểm kiểm soát 26AA - 092.23, 01 yên xe và cốp xe.
- Trả lại cho người bị hại Lò Văn T: 01 chiếc xe mô tô hiệu YAMAHA, biển kiểm soát 26C1- 242.67.
Theo quyết định chuyển vật chứng số 09/QĐ – VKS, ngày 06/01/2022 của VKSND huyện Sông Mã và theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 07/01/2022 giữa Công an và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sông Mã.
4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và các Điều 21, 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Buộc bị cáo Lê Văn T phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của người bị hại, người bị hại có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 27/01/2022); người bị hại Lường Văn Hồng có quyền kháng cáo./.
| Nơi nhận: - TAND Tỉnh; - VKSND huyện - Công an huyện; - Trại giam; - THA hình sự ; - CCTHA Dân sự; - Sở TP; - Bị cáo; - Người đại diện HP của người bị hại; - Người bị hại; - Lưu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Bá Toàn |