vanban.org

Bản án 76/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang Tuyên án 30/11/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt: Bị cáo Trần Văn D 01 năm 04 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo

về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời gian thử thách là 32 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 30/11/2022. Giao bị cáo Trần Văn D cho UBND xã Đ, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung…"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Trần Văn D 01 năm 04 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN DŨNG CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 76/2022/HS-ST
Ngày 30-11-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN DŨNG, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Anh

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Văn Thái.

Ông Lương Văn Định

- Thư ký phiên tòa: Bà Lương Thị Nhẫn, Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên

Dũng, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng tham gia phiên toà: Ông

Hoàng Quang Anh, Kiểm sát viên.

Trong ngày 30 tháng 11năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Yên

Dũng, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số 93/2022/HSST ngày 18 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 94/2022/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Văn D, sinh năm 1983 tại huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang;

nơi đăng ký đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở: thôn B, xã Đ, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Lái xe; Văn hóa: 12/12 dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn Kh và bà Lê Thị Nh; Vợ: Trần Thị T, có 2 con lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo không bị giam, giữ, bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện

tại ngoại. (có mặt tại phiên tòa)

- Bị hại: Ông Lê Văn P, sinh năm 1956 ( đã chết).

Người đại diện hợp pháp của bị hại:

1. Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1953. (Vắng mặt).

2. Anh Lê Văn T, sinh năm 1986. (Vắng mặt).

3.Anh Lê Văn K, sinh năm 1982. (Vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Tổ dân phố 2, thị trấn N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.

4. Anh Lê Văn S, sinh năm 1984; địa chỉ: Số 7C, ngõ 2, C 4, phường H, quận H,

thành phố Hà Nội. (Vắng mặt).

5. Chị Lê Thị Đ, sinh năm 1979; địa chỉ: Thôn T, xã C, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.

(Vắng mặt).

(Bà Nguyễn Thị M, anh Lê Văn K, anh Lê Văn S và chị Lê Thị Đ ủy quyền cho

anh Lê Văn T, sinh năm 1982; địa chỉ: Tổ dân phố 2, thị trấn N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang tham gia tố tụng), anh Lê Văn T (vắng mặt).

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Hoàng Văn T, sinh năm 1984; địa chỉ: Thôn B, xã Đ, huyện Yên

Dũng, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt).

2. Anh Hồ Quang H, sinh năm 1984; địa chỉ: Số nhà 17, phố Y, phường T,

quận B, thành phố Hà Nội. (vắng mặt).

3. Anh Trần Văn Đ, sinh năm 1965; địa chỉ: Thôn B, xã Đ, huyện Yên Dũng,

tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt).

- Người làm chứng:

1. Chị Trần Thị Bắc, sinh năm 1990; địa chỉ: Chung cư Quang Minh, đường

Hoàng Văn Thụ, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt).

2. Chị Vũ Thị Liên, sinh năm 1993; địa chỉ: Số nhà 257, tổ dân phố 5, thị

trấn N, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ

án được tóm tắt như sau:

Trần Văn D, sinh năm 1983 ở thôn B, xã Đ, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang

có bằng lái xe ô tô hạng D theo quy định. Khoảng tháng 01/2022, D có hợp đồng lái xe ô tô chở khách thuê cho anh Hoàng Văn T, sinh năm 1984, trú tại thôn B, xã Đ, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang. Khoảng 04 giờ 15 phút ngày 26/6/2022, D được anh Thuỷ giao xe ô tô loại xe 16 chỗ, nhãn hiệu Ford Transit, biển kiểm soát 29B-148.74 đi từ Cống Đỉa, xã Đ, Yên Dũng đến thành phố Bắc Giang để chở khách đi du lịch theo hợp đồng. Khi đi đến khu vực Thị Trấn N, Yên Dũng, D không đi thẳng lên Thành Phố Bắc Giang mà đi vào đoạn đường Pháp Loa, thuộc địa phận tổ dân phố 3, thị trấn N, huyện Yên Dũng, khu vực có nhiều quán ăn ven đường để tìm người quen lấy đồ ăn sáng. Khoảng 4 giờ 30 phút cùng ngày, D điều khiển xe ô tô đến đoạn đường Pháp Loa, địa phận tổ dân phố 3, thị trấn N, huyện Yên Dũng. Quan sát thấy trên đường vắng người qua lại, trời chưa sáng hẳn, phía trước trên làn đường xe thô sơ phải có một xe cải tiến và hai người đang thu gom rác thải. Đó là ông Lê Văn P, sinh năm 1956 ở tổ dân phố 2, thị trấn N, huyện Yên Dũng cùng vợ là bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1953 đang bốc phế liệu lên chiếc xe cải tiến, nhưng D không quan sát thấy. D điều khiển xe ô tô đi vào phần đường phải làn đường dành cho xe thô sơ, tốc độ khoảng 35km/h (theo lời khai của D). Lúc này D không quan sát nhìn về phía trước mà nhìn sang phía bên trái đường để tìm người quen lấy đồ ăn sáng. Khi xe ô tô đi đến gần xe cải tiến ở phía trước thì D quay lại nhìn về phía trước thì phát hiện thấy xe cải tiến đỗ trên làn đường xe thô sơ và thấy ông P và bà M đang bốc phế liệu lên xe cải tiến.

Do khoảng cách quá gần, thiếu chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ, Vi phạm

điều 12 Luật giao thông đường bộ, Điều 5 Thông tư 31 ngày 29/8/2019 của Bộ giao thông vận tải, nên khi phát hiện thấy ông P, bà M và xe cải tiến ở phía trước, không kịp xử lý, D đã để xe ô tô mình điều khiển đâm vào ông P vào xe cải tiến làm ông P ngã ra đường, bị bánh xe ô tô chèn qua cuốn vào gầm xe ô tô và làm cho xe cải tiến va vào bà M làm bà M bị ngã ra đường, xe ô tô của D lao về phía trước 6-7m rồi dựng lại trên làn đường phải. Hậu quả làm ông P bị chết, bà M bị thương tích.

Sau khi vụ việc xảy ra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Dũng

đã thành lập hội đồng khám nghiệm đến khám nghiệm hiện trường, tử thi khám nghiệm các phương tiện liên quan đến vụ tai nạn và thu giữ tại nhà anh Dương Văn Chỉnh, sinh năm 1975 ở tổ dân phố 3, thị trấn N, huyện Yên Dũng camera ghi lại hình ảnh diến biến vụ tai nạn lưu giữ trong đĩa DVD-R.

K t qu khám nghiệm hiện trường:

Hiện trường được khám nghiệm phải, trái theo hướng Đường Trần Hưng Đạo

- Đường Lưu Viết Thoảng (Tây Bắc - Đông Nam)

Đoạn đường nơi xảy ra vụ tai nạn là đường Pháp Loa, thuộc địa phận Tổ dân

phố 3, thị trấn N, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang, là đoạn đường thẳng, mặt đường trải nhựa phẳng rộng 11,04m, giữa đường có vạch ngắt quãng phân chia mặt đường cho 2 dòng phương tiện đi ngược chiều nhau, trên mỗi làn đường có vạch sơn liền phần chia làn đường dành cho xe thô sơ và xe cơ giới. Ngoài cùng 2 bên là vỉa hè được lát gạch màu nâu đỏ.

Xe ô tô biển kiểm soát 29B-148.74 đỗ tự nhiên trên làn đường xe thô sơ phải,

đầu xe hướng đường Lưu Viết Thoảng. Trục bánh trước phải xe ô tô cách mép đường phải 0,2m, cách chân cột điện ký hiệu 912-VN8 là 20,9m. Trục bánh sau phải cách mép đường phải 0,16m;

Xe cải tiến, khung bằng kim loại, thùng xe, thành xe được che đậy bằng tôn,

trục và hai bánh xe bị bật rời khỏi xe, hai càng xe bằng kim loại. Hai càng xe hướng đường Trần Hưng Đạo, đuôi xe hướng đường Lưu Viết Thắng. Đai kim loại ở vị trí lắp đặt trục xe hai bên chạm xuống mặt đường. Thanh kim loại ở phía cuối càng xe hai bên chạm xuống mặt đường làm cho đầu hai càng xe hướng lên trên. Xe cải tiến đỗ sát mép đường phải. Đầu càng xe phía bên trái cách chân cột điện 912-VN8 là 10,50m.

Trên hiện trường để lại các vật, dấu v t:

- Vết số (1) là vết trà sát mặt đường, hình vòng cung trên làn đường phải là xe

thô sơ, chạy theo hướng đường Trần Hưng Đạo đi đường Pháp Loa, chếch từ phía lòng đường vào mép đường phải, kích thước (0,90 x 0,10)m. Đầu vết cách mép đường phải 2,57m, cách chân cột điện 912/VN8 là 9,45m, cuối vết cách mép đường phải 2,27m;

- Vết số (2) là vết cày xước mặt đường, hình vòng cung, chiều hướng lòng

đường vào sát mép đường phải, kích thước (3,40 x 0,07)m. Điểm đầu dấu vết cách mép đường phải là 1,65m.

- Vết số (3) là vết màu đỏ, loang (nghi là máu người) tại vị trí phía sau xe cải

tiến, kích thước (2,3 x 0,55)m. Tâm vết cách mép đường phải 1,15m, cách chân cột điện 912-VN8 là 17,04m.

- Trục và 02 bánh xe cải tiến, một bánh xe ở dưới lòng đường phải, một bánh

xe ở trên vỉa hè. Hai bánh xe cố định ở hai đầu trục của thanh kim loại. Đầu trục bánh xe nằm dưới lòng đường cách mép đường phải 0,2m.

- Khám nghiệm xe ô tô biển kiểm soát 29B-148.74:

Xe ô tô biển kiểm soát 29B-148.74, nhãn hiệu Ford, loại Transit 16 chỗ ngồi,

màu sơn bạc;

Mặt ngoài ba đờ sốc trước bên phải để lại dấu vết chà sát sơn, bề mặt bám

dính chất màu đen (nghi cao su), chiều hướng từ trước về sau. Má ngoài bánh lốp trước bên phải để lại dấu vết chà sát cao su, chùi sạch bụi đất. Ốp cao su bánh trước bên phải long bật khỏi vị trí cố định, mặt ngoài ốp cao su này và mặt ngoài ốp kim loại (tiếp giáp với ốp cao su) để lại dấu vết chùi sạch bụi đất, chà sát sơn theo hướng từ trước về sau. Tại vị trí bậc lên xuống hàng ghế sau bên phải để lại dấu vết chùi sạch bụi đất, bề mặt bám dính chất màu nâu đỏ (nghi là máu người).

Ngoài ra còn một số dấu vết khác thể hiện trong biên bản khám xe riêng.

- Khám nghiệm xe c i ti n:

Xe cải tiến có khung bằng kim loại, hai tay cầm bằng kim loại, xe có kích

thước chiều dài 2,3 mét, rộng 0,74 mét, cao 0,8 mét. Trục, hai bánh xe bật rời khỏi vị trí cố định. Chân của thanh kim loại gắn cố định vào vị trí phía dưới cuối càng xe bên phải, để lại dấu vết chà xước kim loại. Mặt ngoài thanh kim loại của thành thùng xe bên phải để lại dấu vết chùi sạch bụi đất, trượt sát kim loại, chiều hướng từ trước về sau. Thanh kim loại của thành thùng bên trái để lại dấu vết hằn lõm, bẹp méo, chà sát kim loại, vết lõm có chiều hướng từ ngoài vào trong, từ phải sang trái. Thanh kim loại ở vị trí đai giữ trục bên trái bánh xe bật rời khỏi vị trí cố định (thanh kim loại thứ nhất tính từ trước về sau). Thanh kim loại thứ hai bị cong vênh theo hướng từ ngoài vào trong, đầu thanh kim loại để lại dấu vết chà sát kim loại, bám dính chất bột màu trắng xám. Mặt ngoài má lốp của bánh lốp ghi dòng chữ CASUMINATYRE để lại dấu vết chà sát cao su chùi sạch bụi đất.

Ngoài ra còn một số dấu vết khác thể hiện trong biên bản khám xe riêng.

Khám nghiệm tử thi Lê Văn P, sinh 1956 ở Tổ Dân Phố 2, TT N, Yên Dũng,

Bắc Giang:

Vùng trán và gò má 2 bên có nhiều vết xây sát da; Vùng bụng dưới và mặt

trước bẹn đùi có vết mài sát da; Thành ngực phải có vết bầm tím da..;

Khám trong: Kiểm tra vết thương mạn sườn phải phía trên gai chậu trước trên

thấy: Dập rách tổ chức dưới da xung quanh vết thương, qua vết thương thấu vào khoang ổ bụng và có nhiều máu không đông chảy ra. Chọc hút bằng kim tiêm thấy tràn khí khoang lồng ngực hai bên, tràn máu khoang ổ bụng. Sờ nắn kiểm tra thấy gãy phức tạp xương lồng ngực hai bên.

Tại Bản Kết luận giám định pháp y tử thi số 1173/KL-KTHS ngày 11/7/2022

của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bắc Giang kết luận: Nguyên nhân chết của Lê Văn P do đa chấn thương: Chấn thương sọ não, chấn thương ngực kín, chấn thương bụng kín.

Ngày 08/7/2022, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Dũng ra quyết

định trưng cầu giám định gửi đến Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bắc Giang để giám định cơ chế hình thành dấu vết trên các phương tiện. Tại bản kết luận giám định số 1460/KL - KTHS ngày 24/8/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bắc Giang kết luận :

“1. Không phát hiện thấy dấu vết va chạm giữa xe ô 29B - 148.74 với xe cải

tiến.

2. Dấu vết lõm, mài trượt sơn, kim loại, dính chất màu trắng (dạng da, mô cơ

thể) ở mặt ngoài bên phải nắp ca pô trước của xe ô tô biển số 29B - 148.74 được hình thành do va chạm với vật tày (như cơ thể người) tạo nên.

Dấu vết trượt xước sơn, nhựa, kim loại, hướng từ trước ra sau ở ốp nhựa cụm

đèn trước bên phải và ốp sườn bên phải (vị trí dưới gương chiếu hậu) được hình thành do tiếp xúc, trượt trên bề mặt vật tày cứng (như chai, lọ trên xe cải tiến) tạo nên.

3. Dấu vết trượt xước cao su, sạch bụi đất ở má lốp bánh trước bên phải và

dấu vết gãy chốt định vị, mài trượt nhựa, dính chất màu nâu đỏ (nghi máu) ở chắn bùn bánh trước bên phải của xe ô tô biển số 29B - 148.74 được hình thành do tiếp xúc (chèn đè) lên bề mặt vật tày (như cơ thể ông P) tạo nên.

Không đủ căn cứ xác định vị trí va chạm, chèn đè giữa xe ô tô 29B - 148.74

với cơ thể người.

4. Dấu vết trượt xước cao su, sạch bụi đất, bám dính sợi (dạng sợi vải) ở má

ngoài lốp bánh bên phải của xe cải tiến (sau khi tiến hành ghép khớp dấu vết bật, gãy giữa trục bánh và khung xe cải tiến) được hình thành do tiếp xúc, mài trượt với vật tày có bề mặt là vải sợi (như cơ thể ông P mặc quần áo) tạo nên. Vị chí va chạm tại trước điểm đầu dấu vết mài trượt màu đen ký hiệu số 2, thuộc phần đường bên phải theo hướng đường Trần Hưng Đạo đi đường Lưu Viết Thoảng.

5. Dấu vết mài trượt màu đen ký hiệu số 2 và dấu vết trượt xước mặt đường ký

hiệu 3, phù hợp với quá trình sau khi va chạm, xe cải tiến văng rễ trên mặt đường tạo nên.

6. Không phát hiện dấu vết va chạm giữa xe ô tô biển số 29B - 148.74 và xe

cải tiến với phương tiện khác.

7. Không xác định được tốc độ của xe ô tô biển số 29B - 148.74 tại thời điểm

xảy ra tai nạn qua dấu vết cơ học”.

Ngày 25/8/2022, cơ quan điều tra tiến hành mở niêm phong đĩa DVD-R và

trích xuất hình ảnh lưu trong hồ sơ vụ án.

Đối với với bà Nguyễn Thị M, sau tai nạn bị thương tích phải đến trung tâm y

tế huyện Yên Dũng khám điều trị đến 28/6/2022 ra viện với thương tích: “Đa vết thương nông vùng trán, đuôi mát phải, cẳng tay trái, chấn thương phần mềm vùng ngực phải, gối phải”. Cơ quan điều tra đã ra quyết định trưng cầu giám định và yêu cầu bà M đi giám định. Tuy nhiên, bà M từ chối và có đơn từ chối đi giám định, nên không có căn cứ xác định thương tích của bà M.

Sau tại nạn, D cùng gia đình bị hại tự thoả thuận bồi thường 100.000.000đ, đại

diện gia đình bị hại đã nhận đủ, không yêu cầu bồi thường gì khác và có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho D.

Đối với 01 chiếc đĩa DVD-R lưu giữ hình ảnh vụ tai nạn được lưu trong hồ sơ

vụ án.

Đối với xe ô tô biển kiểm soát 29B-148.74, quá trình điều tra xác định là của

anh Hồ Quang H, sinh năm 1984, trú tại số nhà 17, phố Yên Ninh, phường Trúc Bạch, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội. Anh Hoành cho anh Hoàng Văn T, sinh năm 1984, trú tại thôn B, xã Đ, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang thuê xe để kinh doanh. Do D có giấy phép lái xe hạng D nên anh Thuỷ đã thuê D lái xe chở khách. Ngày 26/7/2022, cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Hoàng Văn T xe ô tô biển kiểm soát 29B-148.74 và trả lại 01 xe cải tiến cho gia đình bị hại.

Tại cơ quan điều tra, Trần Văn D đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi

phạm tội của mình như đã nêu trên.

Tại bản cáo trạng số 84/KSĐT ngày 16/11/2022, Viện kiểm sát nhân dân

huyện Yên Dũng đã truy tố bị cáo Trần Văn D về tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ", được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thừa nhận cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là

đúng người, đúng tội, bị cáo không bị oan. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Hội đồng xét xử công bố lời khai của những người tham gia tố tụng vắng mặt

tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì.

Sau phần xét hỏi, tại phần tranh luận Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện

Yên Dũng đã phát biểu lời luận tội đối với bị cáo, phân tích tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi mà bị cáo đã thực hiện, nhân thân bị cáo, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Văn D từ 15 tháng đến 18 tháng tù, nhưng cho bị cáo hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời gian thử thách từ 30 tháng đến 36 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 30/11/2022.

Giao bị cáo Trần Văn D cho UBND xã Đ, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang

giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Về án phí: Bị cáo Trần Văn D phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ

thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ đã được

tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Việt

Yên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa người

đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 292, Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự để xét xử vắng mặt họ.

. Về tội danh: Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo Trần Văn D tại phiên tòa

hôm nay, lời khai của đại diện hợp pháp của bị hại, vật chứng thu giữ và kết quả khám nghiệm hiện trường, kết quả khám nghiệm phương tiện, kết quả khám nghiệm tử thi, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ, Hội đồng xét xử xét thấy đã có đủ cơ sở kết luận: Hồi 04 giờ 30 phút, ngày 26/6/2022, Trần Văn D, sinh năm 1983 ở thôn B, xã Đ, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang có giấy phép lái xe ô tô hạng D, điều khiển xe ô tô chở khách loại 16 chỗ ngồi biển kiểm soát 29B-148.74 đi trên đường Pháp Loa hướng đi đường Lưu Viết Thoảng thuộc thị trấn N, huyện Yên Dũng. Khi đi đến khu vực một số quán ăn gần chợ Neo, đoạn đường Pháp Loa, thuộc địa phận tổ dân phố 3, thị trấn N, huyện Yên Dũng, gặp ông Lê Văn P, sinh năm 1956, cùng vợ là bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1953 ở tổ dân phố 2, thị trấn N, huyện Yên Dũng đang vận chuyển phế liệu lên xe cải tiến đỗ trên làn đường thô sơ phải phía trước cùng chiều. Do thiếu chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ, Vi phạm điều 12 Luật giao thông đường bộ, Điều 5 Thông tư 31 ngày 29/8/2019 của Bộ giao thông vận tải, nên khi phát hiện thấy ông P, bà M và xe cải tiến ở phía trước, không kịp xử lý, D đã để xe ô tô mình điều khiển đâm vào ông P vào xe cải tiến làm ông P ngã ra đường, bị bánh xe ô tô chèn qua cuốn vào gầm xe ô tô và làm cho xe cải tiến va vào bà M làm bà M bị ngã ra đường, xe ô tô của D lao về phía trước 6-7m rồi dừng lại trên làn đường phải. Hậu quả làm ông P bị chết, bà M bị thương tích. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng truy tố bị cáo D theo tội danh và điều khoản trên là có căn cứ và đúng pháp luật.

. Về tính chất hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm

cho xã hội, đã xâm phạm những quy định của Nhà nước về an toàn giao thông đường bộ, xâm phạm tính mạng, sức khoẻ của công dân được pháp luật bảo vệ. Hành vi của bị cáo còn gây mất trật tự trị an xã hội và tâm lý lo ngại cho người tham gia giao thông.

Xét mức độ lỗi trong vụ án thì thấy: Trong vụ án này bị cáo điều khiển xe ô

tô thiếu chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ, Vi phạm điều 12 Luật giao thông đường bộ, Điều 5 Thông tư 31 ngày 29/8/2019 của Bộ giao thông vận tải quy định về tốc độ, khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ.

. Xét về nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tăng nặng

trách nhiệm hình sự thì thấy:

- Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Bị cáo D

không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 BLHS.

-Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố

và tại phiên tòa, bị cáo ra đầu thú, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Sau khi tai nạn xảy ra, bị cáo tác động gia đình tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại; bị hại có đơn xin giảm nhẹ và miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên bị cáo D được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

. Với các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân

thân của bị cáo, trên cơ sở xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận định: Bản thân bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ. Vì vậy, không cần thiết bắt bị cáo chịu hình phạt tù, mà cho hưởng án treo như đề nghị của Viện kiểm sát thì bị cáo cũng có thể tự cải tạo, không gây nguy hiểm cho xã hội, không gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự an toàn xã hội. Ngoài ra cũng thể hiện được chính sách nhân đạo, khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội, tạo cơ hội cho bị cáo sửa chữa, cải tạo thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 260 của Bộ luật

hình sự về việc người phạm tội còn có thể bị cấm hành nghề giao thông vận tải. Xét thấy bị cáo D là lao động chính trong gia đình, không có nghề nghiệp nào khác, bị cáo đã ly thân với vợ, còn phải nuôi con nhỏ và bố mẹ già nên nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung cấm hành nghề giao thông vận tải đối với bị cáo D.

. Về trách nhiệm dân sự: Anh Trần Văn Đ là chú ruột của bị cáo D đã tự

nguyện bồi thường cho gia đình bị hại tổng số tiền 100.000.000 đồng. Hiện gia đình bị hại không yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự nữa nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

Anh Trần Văn Đ tự nguyện không yêu cầu bị cáo D phải trả lại số tiền trên

nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

.Về vật chứng của vụ án: Quá trình điều tra xác định đối với xe ô tô biển

kiểm soát 29B-148.74, quá trình điều tra xác định là của anh Hồ Quang H, sinh năm 1984, trú tại số nhà 17, phố Yên Ninh, phường Trúc Bạch, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội. Anh Hoành cho anh Hoàng Văn T, sinh năm 1984, trú tại thôn B, xã Đ, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang thuê xe để kinh doanh. Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Yên Dũng đã trả lại xe ô tô cho trả lại cho anh Hoàng Văn T xe ô tô biển kiểm soát 29B-148.74 và trả lại 01 xe cải tiến cho gia đình bị hại.

. Về án phí: Bị cáo D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định quy

định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình

sự, để Hội đồng xét xử tuyên quyền kháng cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51,

Điều 65 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 136 Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

2. Xử phạt: Bị cáo Trần Văn D 01 năm 04 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo

về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời gian thử thách là 32 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 30/11/2022.

Giao bị cáo Trần Văn D cho UBND xã Đ, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang

giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92

của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định

của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định của Bộ luật hình sự.

3. Về án phí: Bị cáo Trần Văn D phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án

phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời

hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đại diện bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án theo quy định pháp

Cỡ chữ