- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo A phạm tội “Đánh bạc”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TH NH PH H CH M NH Bản án số: 76/2021/HSST Ngày: 09/4/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, TH NH H H CH MINH
- Thành phần xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Văn Thắm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lụa – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành ph Hồ Ch Minh: Bà Nguyễn Ngọc Diệu – Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 4 năm 2021, tại Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 77/2021/ TLST-HS, ngày 26 tháng 3 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 75/2021/ QĐXXST-HS ngày 05 tháng 4 năm 2021 đối với bị cáo:
A, sinh năm 1978, tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: xã X, huyện Y, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Bán vé số; trình độ văn hóa: 3/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông B và bà C; vợ là D và có 2 con, lớn sinh năm 1998, nhỏ sinh năm 2012; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 26/4/2020, bị Công an xã X, huyện Y xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc; bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tại Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 02/QĐ-VKS.CC ngày 25/3/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Củ Chi để xét xử A về hành vi phạm tội như sau:
Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 06/02/2021, A từ nhà đi bán vé số, khi đi ngang bãi đất trống tại xã X, huyện Y, Thành phố Hồ Chí Minh thì thấy có sòng bạc đang tổ chức đánh bạc dưới hình thức bài cào ba lá thắng thua bằng tiền nên đã tham gia đặt cược. A mang theo số tiền 950.000 đồng, đặt cược mỗi ván 50.000 đồng, thua hết 750.000 đồng. Đến khoảng 14 giờ 00 phút cùng ngày, A đặt cược 50.000 đồng xuống chiếu bạc, nhà cái chia bài, chưa biết kết quả thắng thua thì bị Công an bắt quả tang và thu giữ trên chiếu bạc số tiền 2.100.000 đồng.
Tại thời điểm bắt quả tang, N làm cái, các con bạc đang tham gia đặt cược gồm 05 người: A, M, L, P, Q. Tại sòng bạc còn có Đ không tham gia đánh bạc nhưng được N đưa số tiền 50.000 đồng để đi mua bài, N hứa sau 20 ván thì N cho Đ 50.000 đồng nhưng N chưa cho thì bị Công an bắt quả tang.
Qua xác minh, nhận thấy ngày 26/04/2020, A bị Công an xã X, huyện Y, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Đánh bạc với số tiền 1.500.000 đồng.
Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Củ Chi để xét xử A về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên quan điểm theo Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 02/QĐ-VKS.CC ngày 25/3/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh và đề nghị Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:
- Tuyên bố bị cáo A phạm tội “Đánh bạc”. Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i và s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo A từ 06 – 09 tháng tù.
- Về xử lý vật chứng đề nghị: Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài Tây (52 lá) đã qua sử dụng và 01 tấm bạt màu cam xanh; tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước Tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam 2.250.000 đồng (trong đó, tiền tang thu trên chiếu bạc là 2.100.000 đồng và tiền con bạc dùng để đánh bạc là 150.000 đồng).
Bị cáo A không tranh luận, không tự bào chữa.
Lời nói sau cùng của bị cáo A: Xin Tòa khoan hồng xử bị cáo mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa nhận định như sau:
Tại phiên tòa, bị cáo A thừa nhận hành vi phạm tội như Quyết định truy tố đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ có tại hồ sơ. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đã thực hiện hành vi đánh bạc trái phép dưới hình thức đánh bài cào ba lá thắng thua bằng tiền thì bị Công an bắt quả tang, thu giữ trên chiếu bạc số tiền 2.100.000 đồng vào lúc 14 giờ ngày 06/02/2021. Bị cáo đã có 01 tiền sự: Ngày 26/04/2020, bị Công an xã X, huyện Y, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc với số tiền 1.500.000 đồng, chưa được xóa mà còn vi phạm. Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa có cơ sở kết luận bị cáo A đã phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trật tự công cộng được pháp luật bảo vệ. Bị cáo nhận thức được việc đánh bạc trái phép được thua bằng tiền là bị pháp luật nghiêm cấm nhưng bị cáo vẫn bất chấp. Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa nghĩ cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc để cải tạo và giáo dục bị cáo trở thành người tốt cho xã hội, bên cạnh đó cũng xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm trong hành vi và nhân thân của bị cáo để có mức hình phạt tương xứng.
Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, có 01 tiền sự là vào ngày 26/4/2020, bị Công an xã X, huyện Y xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc. Tuy nhiên, tiền sự về hành vi đánh bạc của bị cáo là tình tiết định tội nên Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa không xem xét tăng nặng khi lượng hình.
Tình tiết tăng nặng: Không có.
Tình tiết giảm nhẹ: Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa nghĩ nên khoan hồng giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa quyết định tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài Tây (52 lá) đã qua sử dụng và 01 tấm bạt màu cam xanh và tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước Tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam 2.250.000 đồng là tiền dùng đánh bạc.
Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo chỉ bán vé số thu nhập không ổn định, Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định: “…Người bị kết án phải trả án phí theo quyết định của Tòa án…”, Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.
Đối với N, M, L, P, Q và Đ chưa có tiền án, tiền sự về hành vi Đánh bạc, Tổ chức đánh bạc và Gá bạc, do đó chưa đủ cơ sở để xử lý hình sự đối với hành vi Đánh bạc. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Củ Chi đã chuyển hồ sơ đến Công an xã X để xử lý theo thẩm quyền là phù hợp.
Đề nghị của Kiểm sát viên như nêu trên là phù hợp nên Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa chấp nhận.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Củ Chi, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 321, điểm i và s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Tuyên bố bị cáo A phạm tội “Đánh bạc”.
Xử phạt bị cáo A 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.
- Căn cứ vào Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài Tây (52 lá) đã qua sử dụng và 01 tấm bạt màu cam xanh; tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước Tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam 2.250.000 (hai triệu hai trăm năm mươi nghìn) đồng.
Vật chứng nêu trên được liệt kê tại phiếu nhập kho vật chứng số 64/PNK ngày 17/3/2021 (BL108) và Lệnh nhập kho vật chứng số 64/LNK ngày 17/3/2021 của Công an huyện Củ Chi (BL106,108).
- Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo A phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND Tp. Hồ Chí Minh; - VKSND H. Củ Chi; - Công an H. Củ Chi; - CQ THA Hình sự; - Chi cục THADS H.Củ Chi; - Bị cáo; - Lưu: Vp, hồ sơ. | TH M PHÁN – CHỦ T A PHIÊN TÒA Tr ng V n Th m |