vanban.org

Bản án 76/2021/HSPT — Hình sự

TAND tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 07/05/2021 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 07/05/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1, Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị H và một phần kháng cáo của Nguyễn MT. Sửa bản án sơ thẩm số 04/2020/HSST ngày 26/01/2021 của TAND huyện Thọ Xuân, Thanh Hóa về hình phạt của bị cáo H và Thanh.

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH14 quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Nguyễn Thị H 04 (bốn) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án, nhưng được trừ đi thời gian bị cáo đã bị tạm giữ (từ ngày 27/9/2020 đến ngày 30/9/2020… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Thị H - Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1, Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị H và một phần kháng cáo của Nguyễn MT. Sửa bản án sơ thẩm số 04/2020/HSST ngày 26/01/2021 của TAND huyện Thọ Xuân, Thanh Hóa về hình phạt của bị cáo H và Thanh.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 76/2021/HSPT.
Ngày: 07/5/2021.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Dung

Thẩm phán:

Ông Quách Văn Thành

Bà Lê Thị Hiệu

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hương – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Thiều Thị Hương – Kiểm sát viên

Ngày 07/5/2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa, xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 61/2021/HSPT ngày 03/3/2021 đối với bị cáo Nguyễn Thị H và Nguyễn MT do có kháng cáo của các bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 04/2020/HSST ngày 26/01/2021 của TAND huyện Thọ Xuân, Thanh Hóa.

Bị cáo kháng cáo:

1. Nguyễn Thị H, sinh ngày 02/5/1983 tại: Xã XB, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: Thôn Quyết Thắng 2, xã XB, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn QH và bà Hồ Thị Nam; có chồng là Nguyễn Văn Duy và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ từ ngày 27/9/2020, đến ngày 30/9/2020 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt.

2. Nguyễn MT, sinh ngày 05/5/1948 tại: Xã NL, huyện Nga S, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: Thôn Minh Thành 1, xã XB, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 07/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Tần (đã chết) và bà Trần Thị Hiếu (đã chết); vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giữ từ ngày 27/9/2020, đến ngày 30/9/2020 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt.

* Bị cáo không kháng cáo và không bị kháng nghị: Nguyễn Anh T, Lưu Đình B.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 45 phút ngày 26/9/2020, Tại nhà ông Nguyễn QH ở thôn Minh Thành 1, xã XB, huyện Thọ Xuân, Phòng PC08 Công an tỉnh Thanh Hóa đã phối hợp với Công an huyện Thọ Xuân phát hiện và bắt quả tang Nguyễn Thị H (con gái ông QH) đang có hành vi đánh bạc bằng hình thức ghi số lô, số đề cho Nguyễn MT, Nguyễn Anh T và Cao Văn S thu giữ gồm: Số tiền VNĐ 20.600.000đ, 03 phôi đề, 01 bảng lô đề, 02 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5S và 6S của Nguyễn Thị H; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 của Nguyễn Anh T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OppoA5 2020 của Nguyễn MT. Cơ quan điều tra đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với các đối tượng trên theo quy định. Cùng ngày Cơ quan điều tra đã khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Thị H và Nguyễn QH nhưng không thu giữ được đồ vật, tài liệu gì.

Ngày 27/9/2020, Lưu Đình B, sinh năm 1984, trú tại: thôn Hữu Lễ 1, xã Thọ Xương đến Công an huyện Thọ Xuân đầu thú khai nhận việc tham gia đánh bạc với Nguyễn Anh T ngày 27/7/2020 và một số ngày khác bằng hình thức gửi tin nhắn ghi số lô, số đề với Nguyễn Anh T, đồng thời giao nộp 01 điện thoại đi động nhãn hiệu Iphone 6s màu vàng (đã qua sử dụng) cho Cơ quan điều tra.

Quá trình điều tra đã chứng minh được như sau: Do có ý định ghi số lô, số đề cho khách để kiểm lời, Nguyễn Thị H đến nhà ông Nguyễn QH (bố đẻ mình) ở thôn Minh Thành 1, xã XB, huyện Thọ Xuân và dùng 02 điện thoại có số thuê bao là 0920.128.895 và 0367.765.985 để thực hiện việc ghi số lô, số đề cho khách có nhu cầu tham gia đánh bạc, cụ thể như sau:

- Đối với số đề khách đến đánh trực tiếp H ghi cho khách ra 01 mảnh giấy các số đề tương ứng với số tiền cần chơi gọi là “phơi đề” hoặc “các đề” và ký ở phía dưới, sau đó thu tiền và đưa “các đề” hoặc “phơi đề” cho người chơi (đã được trừ 20% hoa hồng), còn khách đánh qua tin nhắn điện thoại thi H sẽ nhắn lại bằng điện thoại của mình “ok” nghĩa là đồng ý.

- Đối với số lô nếu khách đến đánh trực tiếp thì H ghi cho khách ra một mảnh giấy các số lô tương ứng với số điểm đánh và thu tiền, cứ 1 điểm lô H thu của khách từ 22.000 đồng đến 22.500 đồng và giao lại giấy cho khách. Nếu đánh qua điện thoại bằng hình thức gửi tin nhắn đến, thì H sẽ nhắn lại là “ok”, tức là đồng ý.

Sau khi ghi số lô, số đề cho khách Nguyễn Thị H tổng H ra 01 tờ giấy ô ly kẻ ngang (gọi là bảng lô, đề) để làm cơ sở theo dõi và thanh T.

- Cách tính thắng thua: Căn cứ vào kết quả sổ xố kiến thiết Miền Bắc mở thưởng trong ngày, nếu số đề trúng thì Nguyễn Thị H phải trả cho khách chơi 01 ăn 70 (tức là gấp 70 lần), nếu số lô trúng thì H phải tra cho người chơi theo tỷ lệ 01 ăn 80 (tức là cứ 01 điểm lô H phải trả cho khách 80.000 đồng), còn nếu không trúng thì H hưởng toàn bộ số tiền lô, đề khách đã đánh bạc với H.

* Đối với hành vi mua bán số lô, số đề giữa Nguyễn Thị H với Nguyễn MT:

- Ngày 26/9/2020, H đánh bạc với Nguyễn MT, gồm: MT đánh trực tiếp số lô, đề với số tiền là 775.000 đồng; đánh qua tin nhắn điện thoại bằng văn bản từ số thuê bao sim 2 của Nguyễn MT là 0962.806.940 đến số điện thoại thuê bao của H là 0902.128.895 số lô, số đề với số tiền là 7.250.000 đồng. Tồng số tiền là 8.025.000 đồng, hai bên chưa thanh toán tiền với nhau.

Ngoài ra, trong ngày 26/9/2020, H còn ghi bán trực tiếp bán số lô, số đề cho các đối tượng với số tiền, cụ thể như sau: Nguyễn Anh T 984.000 đồng; Nguyễn H M 1.125.000 đồng; Hoàng TP 1.015.000 đồng; Phùng KL 915.000 đồng và 15 đối tượng không rõ tên địa với số tiền là 15.349.500 đồng.

Tổng số tiền H đánh bạc trong ngày 26/9/2020 là 27.413.000 đồng, trong đó Nguyễn MT chưa thanh toán, còn lại đã thanh toán hết cho H.

- Ngày 25/9/2020, H ghi số lô, số đề cho Nguyễn MT bằng hình thức gửi tin nhắn qua điện thoại từ số máy của MT là 0962.806.940 đến số máy điện thoai di động của H là 0902.128.895 với tổng số tiền 7.120.000 đồng. MT trúng 60 điểm lô, được 4.800.000 đồng. Tổng số tiền H và MT đánh bạc trong ngày 25/9/2020 là 11.920.000 đồng, hai bên chưa thanh toán tiền với nhau.

Ngoài ra, H còn ghi bán trực tiếp bán số lô, số đề cho các đối tượng gồm: Cao Văn S với số tiền là 166.500 đồng, S đã thanh T số tiền mua lô đề cho H là 170.000 đồng. Đối chiếu kết quả: S trúng 05 điểm lô, thành tiền 400.000 đồng. Đến ngày 26/9/2020 S đến lấy tiền trúng lô với H thì bị bắt; bán cho 01 người không rõ tên, địa chỉ số tiền 250.000 đồng, hai bên đã thanh toán tiền.

Tổng số tiền H đánh bạc trong ngày 25/9/2020 là 12.736.000 đồng.

- Ngày 22/9/2020, Nguyễn Thị H ghi bán trực tiếp số lô, số đề cho 01 người nam thanh niên không rõ tên địa chỉ số tiền là 4.620.000 đồng, hai bên đã thanh toán tiền. Đối chiếu kết quả: không trúng số lô, số đề nào.

Ngoài các ngày trên, H khai còn ghi bán số lô, số đề cho nhiều người khác, nhưng H không nhớ vì tất cả phơi đề và bảng tổng H số lô, số đề đánh trước ngày 26/9/2020, H đã tiêu hủy hết.

* Đối với hành vi mua bán số lô, số đề giữa Nguyễn Anh T và Lưu Đình B:

Trong các ngày 05/7/2020, từ 07/7/2020 đến 02/8/2020, từ 14/8/2020 đến 23/8/2020 và 26/9/2020 B dùng số điện thoại của B có số thuê bao là 034.229.0354 nhắn tin văn bản đến điện thoại của T có số thuê bao là 033.680.5090 các số lô, số đề tương ứng với số tiền cần đánh, T đồng ý nhắn lại “OK”; sau đó T trực tiếp đến nhà B lấy tiền và các số lô, số đề do B đã ghi ra giấy. T khai: Các lần đánh trên T đã nhận tiền từ B sau đó đến ghi mua trực tiếp với Nguyễn Thị H và được H viết cho các “phơi đề”, sau mỗi ngày đánh T đã thanh toán thắng thua xong với H, B; các phơi đề sau mỗi ngày đánh T đã hủy. Cụ thể:

Ngày 27/7/2020, T nhận ghi mua giúp số lô cho B “300 điểm” tương ứng với số tiền là 6.750.000 đồng. Ngoài ra, trong các ngày 05/7/2020, từ 07/7/2020 đến 26/7/2020, từ 28/7/2020 đến 02/8/2020, từ 14/8/2020 đến 23/8/2020 và ngày 26/9/2020, T đã ghi mua giúp B các số lô, số đề với số tiền mỗi lần mua đều dưới 5.000.000 đồng và có 16 lần trúng nhưng không đủ định lượng theo quy định, còn lại không trúng.

Qúa trình điều tra, Nguyễn Thị H không thừa nhận việc bán số lô, số đề cho Nguyễn Anh T, như lời khai của T, chỉ thừa nhận việc bán số lô, số đề cho T vào ngày 26/9/2020 với số tiền 984.000 đồng và bị Công án bắt quả tang.

Ngày 04/10/2020 Cơ quan điều tra công an huyện Thọ Xuân đã trưng cầu Viện khoa học sự Bộ Công an tiến hành giám định dữ liệu trong các máy điện thoại thu giữ của H, T, B và Thanh để xác định và tìm kiếm dữ liệu liên quan đến việc đánh bạc. Tại bản kết luận giám định số 6909/C09-P6 ngày 19/10/2020 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an kết luận: Tìm thấy các dữ liệu tin nhắn SMS, tin nhắn Zalo, cuộc gọi trong khoảng thời gian từ 05/7/2020 đến 26/9/2020 ở mẫu A1, A2, A3, A4 gửi giám định; Không tìm thấy dữ liệu trong khoảng thời gian từ 05/7/2020 đến 26/9/2020 trong mẫu A5 gửi giám định.

- Đối với số tiền thu giữ 20.600.000 đồng, Cơ quan điều tra Công an huyện Thọ Xuân đã trưng cầu Phòng kỷ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa giám định để xác định tiền thật, tiền giả. Tại bản kết luận giám định số 3089/PC09 ngày 27/11/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa, kết luận: 66 tờ tiền Việt Nam đồng gửi giám định đều là tiền thật.

Tang vật thu giữ gồm: Số tiền VNĐ 20.600.000 đồng; 03 phôi đề, 01 bảng lô đề, 02 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5S và 6S của Nguyễn Thị H; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 của Nguyễn Anh T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OppoA5 của Nguyễn MT; 01 điện thoại di động Iphone 6s màu vàng của Lưu Đình B; Ngoài ra còn thu giữ của Nguyễn Anh T 210.000 đồng, Cao Văn S 382.000 đồng. Toàn bộ tang vật hiện đang được quản lý và nhập kho vật chứng theo quy định của pháp luật.

Đối với 03 phôi đề và 01 bảng lô đề, hiện đang được lưu giữ kèm theo hồ sơ vụ án.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 04/2020/HSST ngày 26/01/2021 của TAND huyện Thọ Xuân, Thanh Hóa đã quyết định:

Căn cứ: Khoản 1, 3 Điều 321; Điều 17; khoản 2 Điều 35; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thị H;

Khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 38; điểm o, s, v, x khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn MT;

Xử phạt:

- Nguyễn Thị H 07 (bảy) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án, nhưng được trừ đi thời gian bị cáo đã bị tạm giữ (từ ngày 27/9/2020 đến ngày 30/9/2020).

- Nguyễn MT 06 (sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án, nhưng được trừ đi thời gian bị cáo đã bị tạm giữ (từ ngày 27/9/2020 đến ngày 30/9/2020).

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên phạt các bị cáo còn lại trong vụ án từ 09 - 10 tháng cải tạo không giam giữ về tội: “đánh bạc”, tuyên hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của những người tham gia tố tụng.

* Ngày 21/9/2020, bị cáo Nguyễn Thị H kháng cáo đề nghị tòa phúc thẩm giảm hình phạt; Bị cáo Nguyễn MT kháng cáo đề nghị tòa phúc thẩm giảm hình phạt cho bị cáo được hưởng án treo.

* Tại phiên tòa phúc thẩm: Các bị cáo vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Đại diện VKSND tỉnh Thanh Hóa đề nghị chấp nhận kháng cáo của bị cáo H và một phần kháng cáo của bị cáo Thanh, giảm cho mỗi bị cáo từ 01 – 03 tháng tù.

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Xét kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thị H và Nguyễn MT thấy rằng:

Khoảng 17 giờ 45 phút ngày 26/9/2020, Tại nhà ông Nguyễn QH ở thôn Minh Thành 1, xã XB, huyện Thọ Xuân, Phòng PC08 Công an tỉnh Thanh Hóa đã phối H với Công an huyện Thọ Xuân phát hiện và bắt quả tang Nguyễn Thị H (con gái ông QH) đang có hành vi đánh bạc bằng hình thức ghi số lô, số đề cho Nguyễn MT và một số đối tượng khác.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến an toàn và trật tự công cộng. Các bị cáo phạm tội nhiều lần nên cần phải xử lý cách ly xã hội đối với các bị cáo Nguyễn Thị H, Nguyễn MT là phù H. Do đó, không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Nguyễn MT.

Tuy nhiên, xét bị cáo Nguyễn Thị H, Nguyễn MT nhân thân tốt, thành khẩn khai báo. Bị cáo Nguyễn MT hiện tại đã hơn 70 tuổi, bị nhiều bệnh của người cao tuổi, hoàn cảnh khó khăn không có vợ, con đang phải sống nương nhờ nhà chùa. Bị cáo là người có công với cách mạng, tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhất, kỷ niệm chương Cựu chiến binh; trong quá trình công tác tại Công an xã XB được Bộ Công an tặng Kỷ niệm chương bảo vệ an ninh tổ quốc, nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại các điểm o, s, v, x Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Còn bị cáo Nguyễn Thị H, sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo tích cực H tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm. Cụ thể cung cấp thông tin giúp Công an huyện Ngọc Lặc triệt phá nhóm đánh bạc tại thông Nguyệt Thịnh, xã Nguyệt Ấn, huyện Ngọc Lặc, các đối tượng trên đã bị khởi tố vụ án, khởi tố bị can theo quy định của pháp luật. Công an huyện Ngọc Lặc xác nhận cho bị cáo H để được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điều 51 BLHS. Ngoài ra chính quyền xã XB xác nhận hoàn cảnh của bị cáo khó khăn , là lao động chính nuôi chồng và bố mẹ già đau ốm và các con nhỏ, đây là tình tiết giảm nhẹ mới của bị cáo ở giai đoạn phúc thẩm. Do hai bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nên thống nhất quan điểm của đại diện VKS tỉnh Thanh Hóa chấp nhận kháng cáo của bị cáo H và một phần kháng cáo của bị cáo Thanh giảm cho bị cáo một phần hình phạt và áp dụng điều 54 BLHS quyết định cho các bị cáo được hưởng hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là phù H.

[2] Án phí: Kháng cáo được chấp nhận nên các bị cáo không phải chịu án phí Hình sự phúc thẩm. Các phần khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị toà không xem xét.

Vì các lẽ trên

Căn cứ Điểm b Khoản 1 Điều 355; Điểm c Khoản 1 Điều 357 BLTTHS.

QUYẾT ĐỊNH

1, Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị H và một phần kháng cáo của Nguyễn MT. Sửa bản án sơ thẩm số 04/2020/HSST ngày 26/01/2021 của TAND huyện Thọ Xuân, Thanh Hóa về hình phạt của bị cáo H và Thanh.

Căn cứ: Khoản 1, 3 Điều 321; Điều 17; khoản 2 Điều 35; Điều 38; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 54; Điều 58 Bộ luật hình sự đối với bị cáo H;

Khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 38; điểm o, s, v, x khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 54; Điều 58 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Thanh;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH14 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Xử phạt:

- Nguyễn Thị H 04 (bốn) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án, nhưng được trừ đi thời gian bị cáo đã bị tạm giữ (từ ngày 27/9/2020 đến ngày 30/9/2020).

- Nguyễn MT 03 (sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án, nhưng được trừ đi thời gian bị cáo đã bị tạm giữ (từ ngày 27/9/2020 đến ngày 30/9/2020).

2, Án phí: Các bị cáo không phải nộp án phí HSPT.

3, Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Cỡ chữ